Đầu vào không thiếu phụ nữ, nhưng càng lên cao càng ít
Theo thông tin do Viện Thống kê UNESCO (UIS) công bố ngày 2/10/2026, phụ nữ chiếm 52% số người theo học chương trình cử nhân, 55% ở bậc thạc sĩ và 47% ở bậc tiến sĩ trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ trong đội ngũ nghiên cứu chỉ đạt 31,4% năm 2023. Ở cấp độ lãnh đạo cao nhất, phụ nữ chỉ chiếm khoảng 19% thành viên các viện hàn lâm khoa học quốc gia.
![]() |
| PGS. TS Đào Việt Hà thảo luận về kết quả xác định độc tố biển cùng nhóm nghiên cứu. Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
Ở Việt Nam, tỷ lệ nữ tham gia nghiên cứu khoa học được đánh giá tương đối cao. Tại hội thảo “Dấu ấn trí tuệ của nhà khoa học nữ Việt Nam và khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới”, tổ chức ngày 28/8/2025, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết tỷ lệ này ở Việt Nam đạt khoảng 45%. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia nghiên cứu cao không đồng nghĩa phụ nữ có cơ hội tương xứng ở các vị trí lãnh đạo và quyết định chính sách khoa học.
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Equality, Diversity and Inclusion của Emerald Publishing ngày 7/11/2025 dẫn số liệu cho thấy, năm 2017, chỉ 7 trong số 235 trường đại học công lập ở Việt Nam có nữ hiệu trưởng. Đến năm 2021, phụ nữ chỉ đảm nhiệm vị trí hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng tại 6% số trường thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghiên cứu cũng dẫn thống kê giai đoạn 2014–2020, trong đó chỉ 10% chức danh giáo sư được trao cho nữ giới.
Như vậy, sự hiện diện của phụ nữ trong đội ngũ nghiên cứu chưa phản ánh đầy đủ mức độ bình đẳng trong hệ thống khoa học.
Nấc thang giữa: Khi trách nhiệm gia đình ảnh hưởng đến nhịp nghiên cứu
Sự nghiệp khoa học đòi hỏi quá trình tích lũy dài hạn: công bố bài báo, chủ trì đề tài, xây dựng mạng lưới hợp tác, tham gia hội thảo và liên tục cập nhật chuyên môn. Những yêu cầu này cần thời gian và tính liên tục. Trong khi đó, phụ nữ vẫn thường gánh phần lớn trách nhiệm chăm sóc con cái và gia đình.
PGS.TS Đặng Thị Thanh Lê, Giảng viên cao cấp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hóa học và Ứng dụng, Trường Đại học Thủy lợi, đã chia sẻ thẳng thắn về áp lực này trong cuộc phỏng vấn đăng trên website nhà trường ngày 23/6/2025: “Phải nói rằng, làm nghiên cứu khoa học đã vất vả rồi, nhưng phụ nữ làm nghiên cứu khoa học còn vất vả hơn”.
Theo PGS.TS Đặng Thị Thanh Lê, thách thức lớn nhất của chị là vừa hoàn thành vai trò làm mẹ, làm vợ, vừa theo đuổi công việc nghiên cứu. Chị cho biết phụ nữ thường phải đảm nhận nhiều trách nhiệm nên không thể dành nhiều thời gian và tâm trí cho công việc như mong muốn.
Khi tiêu chí đánh giá sự nghiệp chủ yếu dựa vào số lượng công bố, đề tài, trích dẫn hoặc thành tích trong một khoảng thời gian liên tục, những gián đoạn do thai sản và chăm sóc gia đình có thể khiến nhà khoa học nữ gặp bất lợi.
Nấc thang cao: Từ năng lực chuyên môn đến quyền dẫn dắt
Khoảng cách giới thể hiện rõ hơn ở những vị trí quyết định hướng nghiên cứu, phân bổ ngân sách, lựa chọn nhân sự và xây dựng chính sách khoa học. Để bước lên các vị trí này, nhà khoa học không chỉ cần năng lực chuyên môn mà còn phải có cơ hội chủ trì đề tài lớn, tiếp cận nguồn tài trợ, xây dựng mạng lưới hợp tác và được ghi nhận trong cộng đồng học thuật.
Trường hợp GS.TS Trần Lê Bảo Hà, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM cho thấy phụ nữ hoàn toàn có thể đạt đến những nấc thang cao nhất của sự nghiệp nghiên cứu. Bà Bảo Hà là nhà khoa học nữ duy nhất trong lĩnh vực Sinh học được công nhận đạt chuẩn chức danh giáo sư trong đợt xét năm 2025. Bà có 118 công bố khoa học, trong đó 45 bài trên các tạp chí quốc tế có uy tín. Hơn 23 năm nghiên cứu, từ vị trí trợ giảng đến giảng viên cao cấp và trưởng bộ môn, GS.TS Trần Lê Bảo Hà đã xây dựng được hướng nghiên cứu chuyên sâu về vật liệu y sinh và kỹ nghệ mô. Nhưng những trường hợp như bà Bảo Hà không nhiều.
Ngoài các tiêu chí chuyên môn, những yếu tố như mạng lưới cố vấn, cơ hội được đề cử, khả năng tiếp cận nguồn tài trợ và mức độ ghi nhận đóng góp cũng ảnh hưởng đến con đường thăng tiến.
Muốn thu hẹp khoảng cách giới trong khoa học, không thể chỉ dừng ở việc khuyến khích nữ sinh theo học STEM hay tăng số lượng nữ nghiên cứu viên. Các cơ sở đào tạo và nghiên cứu cần minh bạch quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm, phân bổ tài trợ; bảo đảm cơ hội chủ trì đề tài và tham gia hội đồng khoa học. Đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá có tính đến những gián đoạn nghề nghiệp hợp lý.
Một yêu cầu cần thiết là thu thập và công bố dữ liệu phân tách theo giới ở từng nấc thang: từ nghiên cứu sinh, nghiên cứu viên, chủ nhiệm đề tài đến giáo sư, lãnh đạo viện và trường đại học. Khi biết rõ phụ nữ đang rời khỏi hành trình khoa học ở đâu, sẽ có thể điều chỉnh chính sách để gỡ điểm nghẽn.
Một nền khoa học bình đẳng không chỉ có nhiều phụ nữ bước vào phòng thí nghiệm, mà còn có nhiều phụ nữ đủ điều kiện để dẫn dắt những phòng thí nghiệm ấy.




















Muốn bình đẳng giới, phải xử lý từ AI: Câu chuyện không đơn giản
Doanh nhân - diễn giả Lê Hồng Thủy Tiên: Bình đẳng giới bắt đầu từ một cơ hội công bằng
Bình đẳng giới: 13/20 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu sau 5 năm
Muốn đo bình đẳng giới, dữ liệu không thể nằm rải rác
PGS.TS Phạm Kim Ngọc nhận bằng sáng chế Mỹ cho công nghệ memristor phục vụ phần cứng AI
PGS.TS Nguyễn Quỳnh Lan: Người lắng nghe tiếng vọng vũ trụ
Cùng chuyên mục
45% nhà nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là nữ, nhưng nữ giới quyết định chính sách khoa học chiếm tỷ lệ thấp
Đối thoại tại nơi làm việc: Thêm chính sách chăm lo cho lao động nữ
Việc làm xanh ở Việt Nam: Mở rộng cơ hội phát triển cho phụ nữ
Tạo cơ hội để nữ sinh làm chủ khoa học và công nghệ
Nữ giới chiếm 46% lực lượng nghiên cứu nhưng chỉ 25,5% chủ nhiệm đề tài khoa học
Kỷ nguyên AI mở rộng, vì sao cánh cửa STEM vẫn hẹp với nữ sinh?