![]() |
| Ảnh minh họa: TTXVN |
Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ (KHCN), Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Hoạt động hợp tác nghiên cứu cần hướng đến những sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế, có kết quả đầu ra cụ thể và đo lường được.
Thực tế cho thấy, Việt Nam đã hình thành một số mô hình liên kết có hiệu quả, như Viettel hợp tác với Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Viện Nghiên cứu Cơ khí tham gia phát triển thiết bị cho các tổ máy nhiệt điện; các mô hình tại Viện Công nghiệp Giấy và Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng, quy mô hợp tác vẫn còn nhỏ, thiếu đồng đều giữa các lĩnh vực và doanh nghiệp chưa thực sự giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái nghiên cứu.
Những con số về mức độ tham gia của doanh nghiệp cũng phản ánh khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường. Trong giai đoạn 2021-2025, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia có sự tham gia của doanh nghiệp; ở cấp địa phương, tỷ lệ này vào khoảng 11%. Năm 2023, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia hình thành quỹ KHCN để tài trợ nghiên cứu chỉ đạt khoảng 6%.
Đáng chú ý, trong giai đoạn 2021-2025, có 42 chương trình với khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu, sử dụng 17.000 tỉ đồng, nhưng số kết quả được phát triển thành sản phẩm đưa ra thị trường còn ít. Điều này cho thấy hoạt động nghiên cứu vẫn chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu ứng dụng, trong khi quá trình thương mại hóa kết quả khoa học còn nhiều hạn chế.
Phân tích những điểm nghẽn, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng nhiều nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ yêu cầu phát triển thực tế và bài toán cụ thể của doanh nghiệp. Một số viện nghiên cứu, trường đại học còn e ngại trong định giá tài sản trí tuệ; hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ chủ yếu dừng ở giới thiệu, trình diễn. Trong khi đó, các sàn giao dịch công nghệ và tổ chức trung gian phát triển chậm, hạ tầng nghiên cứu dùng chung còn thiếu, nhiều phòng thí nghiệm đã xuống cấp.
Để khắc phục tình trạng này, Bộ KHCN được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đánh giá toàn diện năng lực của các cơ sở nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Kết quả đánh giá cần được hệ thống hóa theo ngành, lĩnh vực, tiến tới xây dựng bản đồ năng lực nghiên cứu và cơ sở dữ liệu, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm, lựa chọn đơn vị có chuyên môn phù hợp với nhu cầu.
Một yêu cầu quan trọng khác là thay đổi cách xác định nhiệm vụ nghiên cứu. Thay vì chủ yếu dựa trên đề xuất của các nhà khoa học tại viện, trường như trước đây, hoạt động nghiên cứu cần chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng từ Nhà nước và doanh nghiệp, trong đó mỗi nhiệm vụ phải gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể.
Yêu cầu liên kết nghiên cứu với thực tiễn không chỉ đặt ra đối với khoa học và công nghệ mà còn có ý nghĩa đối với khoa học xã hội và nhân văn. Nghiên cứu khoa học giữ vai trò định hướng tư duy, cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách và tạo nền tảng cho phát triển bền vững quốc gia.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, tri thức khoa học góp phần kiến tạo, định hình xã hội tương lai thông qua hoạt động tư vấn chính sách. Đồng thời, trong bối cảnh phát triển hiện nay, tri thức thuộc lĩnh vực này ngày càng được tích hợp vào các sản phẩm công nghệ và dịch vụ, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cần gắn bó chặt chẽ hơn với thực tiễn đời sống.
Theo nhận định của các chuyên gia, thể chế và chính sách KHCN đã có những thay đổi đáng kể. Phương thức quản lý đang chuyển từ kiểm soát quy trình đầu vào sang đánh giá kết quả, sản phẩm đầu ra và chấp nhận rủi ro; từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển.
Tuy nhiên, quá trình đưa chính sách vào thực tiễn vẫn gặp trở ngại. Công tác truyền thông chính sách còn hạn chế, một số cơ chế thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc đi kèm thủ tục phức tạp. Điều này khiến doanh nghiệp, nhà khoa học và thị trường chưa tiếp cận đầy đủ các chính sách hỗ trợ.
Trước mắt, các chuyên gia đề xuất cơ quan quản lý chủ động tập hợp doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ sở nghiên cứu để cùng giải quyết từng bài toán cụ thể. Cách tiếp cận này hướng hoạt động liên kết vào nhu cầu thực tế, đồng thời tạo điều kiện hình thành những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường.




















Thủ tướng yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Phó Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Việt Nam đặt mục tiêu có thêm 500 startup thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào năm 2035
Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp: Miệt mài tạo những nhịp cầu giúp nữ trí thức hiện thực hóa giấc mơ thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Dự kiến dành 0,1% GDP mỗi năm cho công tác nhân tài khoa học, công nghệ
Kiểm nghiệm thực phẩm 2026: Kết nối khoa học, công nghệ và quản lý an toàn thực phẩm
Cùng chuyên mục
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào nghiên cứu khoa học
Hội nghị thường niên INWES-APNN 2026: Việt Nam chia sẻ về những chính sách nổi bật thúc đẩy vai trò của nữ trí thức
VNU350 thu hút 109 nhà khoa học trẻ xuất sắc, riêng năm 2026 có 38 người trúng tuyển
Hạn chót 20/11: Hà Nội tiếp nhận hồ sơ đăng ký hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh
Các chính sách khoa học và công nghệ có hiệu lực từ tháng 11/2026
Hội LHPN TP. HCM và Hội Nữ trí thức TP. HCM tăng cường phối hợp phát triển nguồn nhân lực nữ