![]() |
| GS.TS Trần Lê Bảo Hà tại lễ trao quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2025. Ảnh: Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM. |
Trong 561 phụ nữ bước vào chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Bệnh viện Hùng Vương, 556 người đạt yêu cầu sau khi chuẩn bị nội mạc tử cung bằng phác đồ thông thường. Năm người còn lại từng phải hủy ít nhất hai chu kỳ chuẩn bị chuyển phôi vì nội mạc chưa đạt 7 mm.
Sau một bước can thiệp bằng huyết tương giàu tiểu cầu, ba người tiếp tục được truyền dịch ly giải fibrin giàu tiểu cầu, viết tắt là PRF-L. Độ dày nội mạc của họ lần lượt tăng từ 4,8 lên 7 mm, từ 6,1 lên 8,5 mm và từ 5,1 lên 8,4 mm. Hai trường hợp ghi nhận thai lâm sàng.
Phễu 561–5–3 vừa cho thấy tín hiệu đáng chú ý, vừa đặt đúng giới hạn cho kết quả: đây mới là ba ca trong một nghiên cứu chứng minh khái niệm, không phải bằng chứng rằng PRF-L đã trở thành một phương pháp điều trị.
Đứng trong nhóm đưa hướng nghiên cứu này từ phòng thí nghiệm tới bệnh viện là GS.TS Trần Lê Bảo Hà, Trưởng bộ môn Sinh lý học và Công nghệ sinh học động vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM. Bà được bổ nhiệm giáo sư ngành Sinh học năm 2025, sau hơn hai thập niên theo đuổi kỹ thuật mô và vật liệu y sinh.
Ba người bệnh sau phễu 561 hồ sơ
Nội mạc tử cung là lớp mô phía trong tử cung, nơi phôi cần bám vào để bắt đầu thai kỳ. Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Hùng Vương, mốc dưới 7 mm được dùng để xác định nội mạc mỏng trong chu kỳ chuẩn bị chuyển phôi đông lạnh. Đây là tiêu chí của nghiên cứu, không phải kết luận áp dụng như nhau cho mọi bệnh nhân IVF.
Ba người tham gia giai đoạn PRF-L có độ tuổi từ 30 đến 44, thời gian vô sinh từ 2 đến 10 năm và nguyên nhân vô sinh không đồng nhất. Mỗi người được truyền PRF-L vào buồng tử cung ba lần, cách nhau hai ngày trong chu kỳ chuẩn bị nội mạc.
Theo công bố trên International Journal of Fertility & Sterility, cả ba trường hợp đều đạt độ dày nội mạc từ 7 mm trở lên sau can thiệp. Hai người có thai lâm sàng, trường hợp còn lại không có thai. Nghiên cứu chưa báo cáo kết quả trẻ sinh sống.
Tên GS.TS Trần Lê Bảo Hà đứng thứ tư trong danh sách mười tác giả. Theo phần phân công đóng góp, bà cùng ba thành viên khác tham gia xây dựng ý tưởng, phương pháp và giám sát nghiên cứu; đồng thời tham gia rà soát bản thảo. Tác giả thứ nhất là Huỳnh Nguyễn Khánh Trang, còn tác giả liên hệ là Trần Phương Huy.
Cách ghi nhận này quan trọng vì PRF-L không phải sản phẩm của một cá nhân. Nó là kết quả của chuỗi công việc nối tiếp giữa nhóm vật liệu y sinh, các nhà nghiên cứu sinh sản và đội ngũ lâm sàng trực tiếp theo dõi bệnh nhân.
Từ 10 ml máu đến một chế phẩm thử nghiệm
PRF-L được tạo từ máu tự thân. Trong quy trình của nhóm, khoảng 10 ml máu ngoại vi được đưa vào ống không chứa chất chống đông, ly tâm để hình thành khối fibrin giàu tiểu cầu, sau đó được ủ và xử lý để thu phần dịch ly giải.
Tiểu cầu không chỉ tham gia quá trình đông máu. Khi được hoạt hóa, chúng giải phóng nhiều phân tử tín hiệu liên quan đến tạo mạch, di chuyển tế bào và sửa chữa mô, trong đó có PDGF và VEGF. Việc sử dụng máu của chính người bệnh có thể hạn chế nguy cơ bất tương thích miễn dịch, nhưng không loại bỏ yêu cầu kiểm soát vô khuẩn, chất lượng chế phẩm và độ ổn định giữa các lần sản xuất.
![]() |
| Ảnh minh họa quy trình xử lý mẫu máu trong phòng thí nghiệm; người trong ảnh không phải nhân vật bài viết. Ảnh: Karola G/Kaboompics.com – Pexels. |
Trước khi thử trên người, nhóm đã khảo sát các dạng chế phẩm fibrin giàu tiểu cầu trên tế bào và động vật.
Trong nghiên cứu mô hình hội chứng Asherman ở chuột, một liều PRF dạng gel được ghi nhận làm tăng số tuyến tử cung, độ dày nội mạc và kết quả mang thai so với nhóm tổn thương không được điều trị. Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng chỉ ra các giới hạn gồm cỡ mẫu nhỏ, thời gian theo dõi ngắn và chưa xác định đầy đủ cơ chế ở cấp độ phân tử.
Một công trình khác đăng trên tạp chí Gels so sánh PRF dạng gel với dịch ly giải PRF. Trên mô hình mô chuột bị tổn thương, PRF-L có nồng độ PDGF-AB và VEGF-A cao hơn. Cấu trúc bề mặt liên quan đến khả năng tiếp nhận phôi và hiện tượng phôi bám vào mô được quan sát ở nhóm PRF-L trong điều kiện thí nghiệm.
Ở công trình này, TS Lê Thị Vĩ Tuyết là tác giả thứ nhất; GS.TS Trần Lê Bảo Hà là tác giả cuối và tác giả liên hệ. Phần đóng góp ghi nhận bà tham gia thẩm định, giám sát, quản lý dự án, huy động kinh phí và rà soát bài báo. Điều đó cho thấy vai trò của bà nằm ở việc định hình và duy trì một hướng nghiên cứu, không phải thực hiện một mình toàn bộ thí nghiệm.
Hai đầu cầu của một quá trình chuyển giao
Theo Phòng thí nghiệm Kỹ thuật mô và Vật liệu y sinh, việc xây dựng quy trình cô đặc tiểu cầu được khởi động từ năm 2017. Nhóm tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên phụ trách các bước chuẩn hóa chế phẩm và đánh giá tiền lâm sàng; Bệnh viện Hùng Vương đảm nhiệm phần lựa chọn, điều trị và theo dõi người bệnh.
Sự phân công này giúp mỗi kết quả đi qua hai hệ kiểm tra khác nhau. Phòng thí nghiệm phải trả lời chế phẩm gồm những gì, có tác động thế nào lên tế bào và mô hình động vật. Bệnh viện phải xác định đối tượng nào có thể tham gia, theo dõi an toàn và đánh giá kết quả trong điều kiện lâm sàng.
![]() |
| GS.TS Trần Lê Bảo Hà, thứ hai từ phải, và TS Lê Thị Vĩ Tuyết, thứ ba từ phải, tại lễ trao Giải thưởng Sáng tạo TP.HCM năm 2025. Ảnh: Phòng thí nghiệm Kỹ thuật mô và Vật liệu y sinh. |
Năm 2025, công trình “Ứng dụng công nghệ cô đặc tiểu cầu trong tái tạo nội mạc tử cung” nhận giải Nhì Giải thưởng Sáng tạo TP.HCM. Danh sách nhóm được vinh danh gồm Trần Lê Bảo Hà, Lê Thị Vĩ Tuyết, Hoàng Thị Diễm Tuyết, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang và Hoàng Thị Thùy Trang, đại diện cho cả trường đại học và bệnh viện. Thông tin trao giải của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng xác định đây là công trình phối hợp liên đơn vị.
Hướng nghiên cứu này nằm trong bức tranh rộng hơn của vật liệu y sinh phục vụ tái tạo mô. Điểm khác của PRF-L là nguyên liệu được lấy từ chính máu người bệnh và được đưa vào một bài toán lâm sàng cụ thể: nội mạc tử cung vẫn mỏng sau nhiều chu kỳ chuẩn bị chuyển phôi.
Tín hiệu cần được kiểm tra lại ở quy mô lớn hơn
Hai ca có thai lâm sàng trong ba trường hợp là kết quả đáng theo dõi, nhưng tỷ lệ này không thể được suy rộng thành hiệu quả điều trị. Nghiên cứu có cỡ mẫu rất nhỏ, không có nhóm chứng, không phân nhóm ngẫu nhiên và được thực hiện theo thiết kế mở.
Ba người bệnh cũng đã trải qua can thiệp PRP ở chu kỳ trước khi nhận PRF-L. Vì vậy, dù nhóm nghiên cứu cho rằng hoạt tính của các yếu tố tăng trưởng giảm theo thời gian, ảnh hưởng kéo dài của lần can thiệp trước chưa thể bị loại trừ hoàn toàn.
Ngoài hiệu quả, quy trình còn phải giải quyết nguy cơ nhiễm khuẩn trong quá trình chuẩn bị, sự khác biệt về nồng độ tiểu cầu giữa từng mẫu máu và bất tiện khi người bệnh phải lấy máu nhiều lần. Các nghiên cứu tiếp theo cần có nhóm so sánh, cỡ mẫu đủ lớn, quy trình sản xuất thống nhất và tiêu chí theo dõi dài hạn, đặc biệt là tỷ lệ trẻ sinh sống cùng các biến cố bất lợi.
GS.TS Trần Lê Bảo Hà từng nhận xét: “Việc nghiên cứu đã đầy thử thách, việc đưa sản phẩm vào thử nghiệm, ứng dụng lại là một vấn đề khó khăn gấp bội”, theo bài giới thiệu của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
Với PRF-L, thách thức kế tiếp không phải tạo thêm một con số gây ấn tượng từ ba ca ban đầu. Câu hỏi quan trọng hơn là kết quả có lặp lại trong một thử nghiệm lớn, có đối chứng và theo dõi đến khi trẻ chào đời hay không. Chỉ khi trả lời được câu hỏi ấy, một tín hiệu trong phòng thí nghiệm mới có thể tiến gần hơn tới lựa chọn điều trị đáng tin cậy cho người bệnh.




















TS. Trần Diệu Linh và vật liệu giải phóng khí cho tái tạo mô
Việt Nam nghiên cứu thịt nhân tạo
Thành tích nghiên cứu khoa học ấn tượng của 9 nữ giáo sư năm 2025
Cùng chuyên mục
Ngô Thị Duyên mở thêm cơ hội giao tiếp từ chuyển động mắt
Trần Lê Bảo Hà theo đuổi hướng phục hồi nội mạc tử cung
ThS Lê Thị Liễu Hạnh tìm hiểu cách phụ nữ tự bảo vệ trên mạng
PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh tìm cách đưa AI vào dược lâm sàng
GS.TS. Lê Toàn Thủy: Người đưa "mắt thần" radar từ không gian về với những cánh đồng lúa Việt Nam
Annie Jump Cannon: Nhà thiên văn học xây dựng chuẩn phân loại sao hiện đại