![]() |
| ThS Lê Thị Liễu Hạnh (bên phải, áo trắng, đeo kính, cầm tài liệu) trao đổi với một phụ nữ tại phường Yên Hòa trong đợt khảo sát. Ảnh: Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới. |
Một cuộc gọi giả danh, đường link gửi qua tin nhắn, tài khoản bị lấy thông tin hay những lời quấy rối xuất hiện trên màn hình đều có thể biến một hoạt động quen thuộc trên Internet thành rủi ro. Nhưng khi gặp những tình huống ấy, phụ nữ thường ứng phó thế nào, họ biết tự bảo vệ đến đâu và khi cần trợ giúp thì tìm ai?
Đó là những câu hỏi ThS Lê Thị Liễu Hạnh cùng nhóm nghiên cứu đang mang tới phụ nữ tại Hà Nội. Từ ngày 30/6 đến 4/7/2026, nhóm của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới khảo sát tại phường Yên Hòa trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “An ninh cá nhân của phụ nữ đô thị ở Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số”. Lê Thị Liễu Hạnh là chủ nhiệm nhiệm vụ.
Nghiên cứu không chỉ hỏi phụ nữ có từng gặp lừa đảo hay không. Phạm vi khảo sát còn đi vào bảo vệ dữ liệu cá nhân, quấy rối trên môi trường số, khả năng ứng phó khi xảy ra sự cố, cảm giác an toàn khi sử dụng Internet và nhu cầu nhận hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng, cơ quan hay tổ chức tại địa phương.
Đi hỏi 200 phụ nữ thay vì chỉ nói về nguy cơ
Đoàn nghiên cứu thực hiện bảng hỏi với 200 phụ nữ ở phường Yên Hòa và 10 cuộc phỏng vấn sâu. Trong đó, sáu cuộc phỏng vấn dành cho phụ nữ địa phương để tìm hiểu trải nghiệm, khả năng tự bảo vệ và nhu cầu hỗ trợ; bốn cuộc còn lại được thực hiện với đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ, chi hội trưởng phụ nữ và cán bộ phụ trách lĩnh vực văn hóa.
Cách làm này cho phép nhìn một sự việc từ hai phía. Người phụ nữ kể những gì mình gặp và cách mình phản ứng; người làm công tác tại cơ sở cung cấp thêm góc nhìn về khả năng hỗ trợ khi sự cố xảy ra. Dữ liệu định lượng từ bảng hỏi và thông tin thu được qua phỏng vấn sâu nhờ đó có thể bổ sung cho nhau, thay vì chỉ dừng ở những cảnh báo chung rằng môi trường mạng “có nhiều nguy cơ”.
![]() |
| ThS Lê Thị Liễu Hạnh (bên trái, áo trắng, đeo kính) làm việc với đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Yên Hòa trong quá trình triển khai khảo sát. Ảnh: Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới. |
Nguồn công bố của Viện cho biết những thông tin ban đầu đã ghi nhận trải nghiệm của phụ nữ liên quan tới dữ liệu cá nhân, quấy rối và lừa đảo trực tuyến, cùng khả năng tự bảo vệ và tìm kiếm hỗ trợ khi gặp sự cố. Tuy nhiên, các dữ liệu này vẫn đang được xử lý, phân tích cho báo cáo tổng kết.
Chi tiết ấy rất quan trọng. Ở giai đoạn hiện tại, chưa có căn cứ để viết rằng bao nhiêu phần trăm phụ nữ được khảo sát từng bị lừa đảo, nhóm tuổi nào dễ gặp rủi ro hơn hay nguyên nhân nào quyết định khả năng tự bảo vệ. Một khảo sát 200 người tại một phường cũng chưa thể mặc nhiên đại diện cho toàn bộ phụ nữ Hà Nội nếu báo cáo cuối cùng chưa chứng minh khả năng suy rộng.
Giá trị trước mắt nằm ở việc một vấn đề vốn thường được kể bằng những vụ việc rời rạc đang được đưa vào một nghiên cứu có đối tượng, bảng hỏi và phỏng vấn thực địa cụ thể.
Một người phụ nữ cần gì để tự bảo vệ trên mạng?
Lê Thị Liễu Hạnh hiện là Thạc sĩ, công tác tại Phòng Nghiên cứu Quyền Con người và An ninh con người thuộc Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới. Năm 2025, bà cũng đứng tên chủ nhiệm một nhiệm vụ về an ninh kinh tế của người cung cấp dịch vụ vận tải khi tham gia mô hình kinh tế chia sẻ.
Từ câu chuyện của những người làm việc trên nền tảng số đến an ninh cá nhân của phụ nữ đô thị, điểm gặp nhau là công nghệ không chỉ tạo thêm tiện ích. Khi hoạt động kinh tế, giao tiếp, thanh toán và lưu trữ thông tin dịch chuyển lên môi trường số, các dạng rủi ro cũng thay đổi theo.
Với phụ nữ, tự bảo vệ vì vậy không thể thu gọn vào một vài thao tác kỹ thuật như đặt mật khẩu mạnh. Nhiệm vụ của nhóm Lê Thị Liễu Hạnh còn đặt câu hỏi về dữ liệu cá nhân, quấy rối, lừa đảo, khả năng ứng phó và nơi phụ nữ tìm đến khi cần trợ giúp.
Cách đặt vấn đề này gặp với chiến dịch “Kết nối 3 an – Làm chủ không gian số” dành cho phụ nữ mà Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động cuối năm 2025. Chiến dịch nhấn mạnh phụ nữ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng, đồng thời có quyền tham gia một môi trường mạng an toàn, không bị quấy rối hay xâm phạm quyền riêng tư.
Chưa thể kết luận khi dữ liệu vẫn đang được phân tích
Một ranh giới cần giữ rõ là nghiên cứu hiện mới công bố hoạt động khảo sát và những nhóm thông tin ban đầu thu được. Viện chưa công bố bảng số liệu kết quả cuối cùng, tỷ lệ theo từng loại rủi ro hay phân tích các yếu tố tác động đến khả năng tự bảo vệ của phụ nữ.
Vì vậy, bài toán mà Lê Thị Liễu Hạnh đang theo đuổi hiện đáng chú ý ở câu hỏi hơn là ở một kết luận gây chú ý. Phụ nữ tham gia môi trường số với mức độ nào? Những nguy cơ nào xuất hiện trong trải nghiệm thực tế? Khi gặp sự cố, họ tự xử lý đến đâu và ở điểm nào cần một mạng lưới hỗ trợ?
Những câu hỏi này giúp phân biệt nghiên cứu xã hội với một bài hướng dẫn phòng chống lừa đảo. Một danh sách kỹ năng có thể khuyên người dùng không cung cấp mã OTP hay thận trọng với đường link lạ. Nghiên cứu lại phải tìm hiểu cả việc người phụ nữ hành động thế nào trong tình huống thực, vì sao họ lựa chọn cách đó và cơ chế hỗ trợ xung quanh có hoạt động hay không.
Phụ nữ Mới gần đây cũng ghi nhận các hoạt động đưa kỹ năng số tới phụ nữ từ cộng đồng, từ thanh toán điện tử, dịch vụ công đến phòng tránh lừa đảo mạng. Những lớp học như vậy cho thấy một hướng giải quyết ở cấp kỹ năng; khảo sát tại Yên Hòa có thể bổ sung lớp dữ liệu về trải nghiệm và nhu cầu của chính người sử dụng.
Tự bảo vệ không có nghĩa phụ nữ phải tự xoay xở
Biết kiểm tra thông tin, giữ kín dữ liệu quan trọng và nhận diện dấu hiệu bất thường là một phần của khả năng tự bảo vệ. Nhưng nếu một phụ nữ bị quấy rối, mất tài khoản, bị khai thác thông tin cá nhân hoặc trở thành nạn nhân của lừa đảo, câu chuyện không thể kết thúc ở lời khuyên rằng chị cần “cẩn thận hơn”.
Đó là lý do nhóm nghiên cứu không chỉ phỏng vấn phụ nữ mà còn tìm đến Hội Liên hiệp Phụ nữ và cán bộ ở địa phương. Khi sự cố vượt quá khả năng tự xử lý, người bị ảnh hưởng cần biết nơi nào có thể tiếp nhận thông tin, hướng dẫn hoặc kết nối hỗ trợ.
![]() |
| Bảo vệ dữ liệu và sử dụng Internet an toàn là một phần của năng lực tự bảo vệ trên môi trường số. Ảnh minh họa, người trong ảnh không phải nhân vật bài viết. Ảnh: Dan Nelson/Pexels. |
Vấn đề cũng rộng hơn lừa đảo tài chính. Năm 2025, Hà Nội lựa chọn chủ đề “Bình đẳng giới và an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái trong kỷ nguyên số” cho Tháng hành động vì bình đẳng giới, nhấn mạnh những dạng rủi ro mới nảy sinh khi đời sống dịch chuyển mạnh sang môi trường mạng. Đây là bối cảnh phù hợp để nhìn nghiên cứu ở Yên Hòa như một nỗ lực thu thập dữ liệu ở cấp cộng đồng, thay vì một chiến dịch cảnh báo đơn lẻ.
Hà Nội chú trọng phòng ngừa bạo lực trực tuyến đối với phụ nữ và trẻ em gái cũng cho thấy vấn đề an toàn của phụ nữ trên mạng đã đi từ câu chuyện cá nhân sang yêu cầu chính sách và hỗ trợ xã hội.
Dữ liệu của nhóm Lê Thị Liễu Hạnh chưa cho phép trả lời ngay phụ nữ Hà Nội đang an toàn đến mức nào trên mạng. Nhưng 200 bảng hỏi và 10 cuộc phỏng vấn có thể giúp chuyển câu hỏi từ “phụ nữ nên cẩn thận hơn” sang những vấn đề cụ thể hơn: họ đang gặp rủi ro gì, thiếu kỹ năng nào, và hệ thống hỗ trợ cần có mặt ở đâu.
Tự bảo vệ là cần thiết. Song an toàn trên môi trường số chỉ bền vững khi người phụ nữ không phải tự mình xử lý mọi rủi ro mà không biết tìm ai khi sự cố vượt khỏi khả năng của họ.





















Phát động chiến dịch “Kết nối 3 an – Làm chủ không gian số” dành cho phụ nữ
Kỹ năng số mở thêm cơ hội phát triển cho phụ nữ từ cộng đồng
Hà Nội phát động chiến dịch bình đẳng giới 2025, chú trọng phòng ngừa bạo lực trực tuyến
Hội thảo quốc tế: Bảo vệ Phụ nữ và Trẻ em trên không gian mạng tại Hà Nội
Cùng chuyên mục
ThS Lê Thị Liễu Hạnh tìm hiểu cách phụ nữ tự bảo vệ trên mạng
PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh tìm cách đưa AI vào dược lâm sàng
GS.TS. Lê Toàn Thủy: Người đưa "mắt thần" radar từ không gian về với những cánh đồng lúa Việt Nam
Annie Jump Cannon: Nhà thiên văn học xây dựng chuẩn phân loại sao hiện đại
Nữ nhà khoa học góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Quỳnh Lan: Người lắng nghe tiếng vọng vũ trụ