Bà từng đến thăm, làm việc với Hội Nữ trí thức Việt Nam và bày tỏ mong muốn tăng cường kết nối giữa đội ngũ trí thức Việt Nam trong nước với trí thức, phụ nữ Việt Nam đang sinh sống, làm việc tại Malaysia, qua đó mở rộng cơ hội giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác.
Hướng đến Đại hội đại biểu Hội Nữ trí thức Việt Nam lần thứ IV, nhiệm kỳ 2026–2031, bà Trần Thị Chang đã chia sẻ với Tạp chí Phụ nữ Mới những suy nghĩ về vai trò của nữ trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước, cũng như kỳ vọng về những kết nối mới giữa cộng đồng trí thức hai quốc gia.
![]() |
| Bà Trần Thị Chang phát biểu tại lễ ra mắt Hội Hữu nghị Malaysia – Việt Nam. |
P.V: Từ góc nhìn của một người đang hoạt động và kết nối cộng đồng Việt Nam tại Malaysia, bà kỳ vọng Đại hội đại biểu Hội Nữ trí thức Việt Nam lần thứ IV sẽ mở ra những cơ hội mới nào cho việc kết nối, hợp tác giữa nữ trí thức trong nước và nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài?
Bà trần Thị Chang: Theo tôi, Đại hội lần thứ IV là một thời điểm rất phù hợp để Hội Nữ trí thức Việt Nam mở rộng hơn nữa không gian kết nối, từ trong nước ra cộng đồng nữ trí thức Việt Nam trên toàn thế giới. Trong thực tế hoạt động đối ngoại nhân dân tại Malaysia, tôi nhận thấy có rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang làm việc, nghiên cứu, kinh doanh, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ… và có những mối quan hệ rất tốt với các tổ chức, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng sở tại. Đây là một nguồn lực rất đáng quý. Tôi kỳ vọng sau Đại hội, việc kết nối nữ trí thức trong nước với nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài sẽ không chỉ dừng ở những cuộc gặp gỡ, giao lưu hay các sự kiện, mà từng bước chuyển sang những chương trình hợp tác cụ thể: kết nối chuyên gia, chia sẻ tri thức, nghiên cứu chung, đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm, hỗ trợ thế hệ nữ trí thức trẻ và cùng triển khai các hoạt động vì cộng đồng. Nếu làm được điều đó, mỗi nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài sẽ không chỉ là một cá nhân thành công ở quốc gia mình đang sống, mà còn có thể trở thành một nhịp cầu đưa tri thức, kinh nghiệm và những cơ hội hợp tác quốc tế về với Việt Nam.
![]() |
| Bà Trần Thị Chang tham dự Lễ Ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bệnh viện 19-8, Bệnh viện 30-4 Bộ Công An với Viện Tim Quốc gia Malaysia. |
Bà nhìn nhận thế nào về những thế mạnh và nguồn lực của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài?
Tôi cho rằng thế mạnh lớn nhất của nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài là họ đang đứng ở giao điểm giữa tri thức Việt Nam và môi trường quốc tế. Họ có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc trong những môi trường tiên tiến, đồng thời hiểu văn hóa, con người và nhu cầu phát triển của Việt Nam. Đặc biệt, nhiều chị em có mạng lưới quan hệ với các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các hội nghề nghiệp tại nước sở tại. Đó chính là một nguồn lực rất lớn. Ví dụ từ hoạt động kết nối Việt Nam – Malaysia, chúng tôi thấy rằng khi có một người Việt Nam am hiểu cả hai bên đứng ra kết nối, rất nhiều cơ hội hợp tác có thể được mở ra nhanh hơn và thuận lợi hơn, từ y tế, giáo dục, khoa học, du lịch đến giao lưu văn hóa và cộng đồng. Tôi nghĩ nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp ở ba vai trò: là chuyên gia, là người kết nối và là người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Nếu Hội Nữ trí thức Việt Nam kết nối được những nguồn lực này thành một mạng lưới chung thì giá trị tạo ra sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc mỗi cá nhân hoạt động riêng lẻ.
![]() |
Từ thực tế hoạt động tại nước sở tại, bà mong muốn Hội Nữ trí thức Việt Nam sẽ có thêm những hoạt động hoặc định hướng gì để tăng cường kết nối với nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài?
Theo tôi, trước hết cần có một đầu mối kết nối rõ ràng và một cơ chế hoạt động thường xuyên. Hiện nay, ở nhiều quốc gia đã có những nhóm, hội và mạng lưới nữ trí thức Việt Nam rất năng động. Điều quan trọng là làm sao để những mạng lưới đó biết đến nhau, kết nối với Hội Nữ trí thức Việt Nam và có cơ hội cùng triển khai những chương trình chung. Tôi mong muốn Hội có thể xây dựng một mạng lưới nữ trí thức Việt Nam toàn cầu, trong đó mỗi quốc gia có thể là một điểm kết nối. Chúng ta có thể bắt đầu rất thực tế bằng một cơ sở dữ liệu chung về chuyên gia, lĩnh vực chuyên môn, tổ chức đang công tác và nhu cầu hợp tác. Bên cạnh đó, có thể tổ chức định kỳ các diễn đàn trực tuyến, tọa đàm chuyên môn, chương trình mentoring cho nữ trí thức trẻ và các chương trình kết nối chuyên gia trong nước với chuyên gia ở nước ngoài. Tôi đặc biệt mong muốn tinh thần kết nối này được duy trì thường xuyên quanh năm, chứ không chỉ xuất hiện vào những dịp Đại hội hay các sự kiện lớn. Kết nối phải tạo ra được công việc, dự án và giá trị cụ thể thì mạng lưới mới thực sự bền vững.
![]() |
Theo bà, một mạng lưới nữ trí thức Việt Nam trong nước và trên thế giới cần được xây dựng như thế nào để không chỉ kết nối mà còn tạo ra những cơ hội hợp tác thực chất?
Tôi hình dung đó sẽ là một mạng lưới mở, hiện đại và rất thực chất – nơi khoảng cách địa lý không còn là rào cản đối với việc chia sẻ tri thức và hợp tác. Một nữ trí thức ở Hà Nội có thể kết nối với một nhà khoa học Việt Nam tại Kuala Lumpur, một chuyên gia tại Nhật Bản, một doanh nhân tại châu Âu hay một giảng viên tại Mỹ để cùng giải quyết một vấn đề cụ thể. Mạng lưới đó có thể có những nhóm chuyên môn xuyên quốc gia, các seminar trực tuyến, chương trình cố vấn cho nữ trí thức trẻ, kết nối nghiên cứu, trao đổi học thuật, hợp tác nghề nghiệp và các dự án cộng đồng. Tôi cũng mong mạng lưới không chỉ dành cho những người đã có học hàm, học vị cao, mà tạo cơ hội cho những nữ trí thức trẻ, những phụ nữ đang trên hành trình phát triển nghề nghiệp được tham gia, học hỏi và tìm kiếm người đồng hành. Và điều quan trọng nhất, tôi mong đây sẽ là một mạng lưới mang tinh thần Việt Nam nhưng có tầm nhìn quốc tế: cùng nhau giữ gìn giá trị Việt Nam, đồng thời chủ động hội nhập, chia sẻ tri thức và đóng góp cho sự phát triển của đất nước cũng như cộng đồng quốc tế.
Qua những lần gặp gỡ, làm việc và đồng hành cùng Hội Nữ trí thức Việt Nam, bà kỳ vọng gì ở nhiệm kỳ 2026–2031, đặc biệt trong việc kết nối nữ trí thức trong nước với cộng đồng nữ trí thức Việt Nam tại Malaysia?
Tôi có một mong muốn rất cụ thể: nhiệm kỳ 2026–2031 nên coi việc kết nối nữ trí thức Việt Nam ở nước ngoài là một trong những hướng hoạt động quan trọng của Hội. Theo tôi, có thể nghiên cứu xây dựng một đầu mối phụ trách kết nối nữ trí thức Việt Nam toàn cầu, đồng thời chủ động kết nối với các hội, nhóm nữ trí thức Việt Nam tại từng quốc gia. Tôi cũng mong Hội có thể ký kết các thỏa thuận hợp tác với những tổ chức nữ trí thức ở nước ngoài, tổ chức các diễn đàn thường niên và tạo cơ chế để đại diện nữ trí thức Việt Nam ở các quốc gia có thể tham gia, đóng góp ý kiến vào các hoạt động khoa học, chuyên môn của Hội. Đối với Malaysia, tôi rất mong trong thời gian tới có thể thúc đẩy thêm những chương trình kết nối nữ trí thức hai nước, trước hết ở những lĩnh vực có nhiều tiềm năng như y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh doanh và các hoạt động cộng đồng. Tôi tin rằng phụ nữ Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài đều có chung một điểm: đó là mong muốn được đóng góp. Vì vậy, nếu chúng ta tạo được một cơ chế để tri thức gặp nhau, những người có cùng tâm huyết gặp nhau và những ý tưởng tốt gặp được cơ hội, thì mạng lưới nữ trí thức Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một nguồn lực rất mạnh cho đất nước trong giai đoạn mới. Với tôi, đó cũng chính là tinh thần của ngoại giao nhân dân: kết nối con người để mở ra những cơ hội hợp tác, và từ những kết nối ấy tạo ra những giá trị lâu dài cho Việt Nam.
P.V: Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi!
Bà Trần Thị Chang (sinh năm 1962, quê Hà Nam) hiện là Chủ tịch Hội Hữu nghị Malaysia – Việt Nam (MVFA), một gương mặt tích cực trong cộng đồng người Việt tại Malaysia. Bà sang Malaysia năm 1993 theo chương trình hợp tác giữa ngành y tế hai nước, từng làm việc tại Bệnh viện Kuala Lumpur và từ năm 1998 công tác tại Viện Tim Quốc gia Malaysia.
Hơn 30 năm sinh sống tại Malaysia, bà dành nhiều tâm huyết cho việc tập hợp, hỗ trợ và kết nối cộng đồng người Việt, đặc biệt là phụ nữ. Bà tham gia thành lập Hội Phụ nữ Việt Nam, Câu lạc bộ tiếng Việt, Ban liên lạc người Việt tại Malaysia, trước khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội Hữu nghị Malaysia – Việt Nam. Hội được Bộ Nội vụ Malaysia chấp thuận thành lập năm 2022 và trở thành một cầu nối thúc đẩy giao lưu nhân dân, văn hóa, kinh tế và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Dấu ấn nổi bật của bà Chang là các hoạt động hỗ trợ người Việt gặp khó khăn, chăm lo phụ nữ Việt Nam tại Malaysia và các chương trình thiện nguyện. Trong thời kỳ COVID-19, bà tích cực vận động và tổ chức hỗ trợ cộng đồng, trong đó có chương trình tiêm vaccine cho người Việt. Những đóng góp này từng được Đại sứ Việt Nam tại Malaysia ghi nhận.
Những năm gần đây, dưới sự dẫn dắt của bà, MVFA mở rộng hoạt động sang giao lưu văn hóa, kết nối doanh nghiệp, giáo dục, du lịch và ngoại giao nhân dân. Năm 2025, Hội khai trương văn phòng tại Kuala Lumpur, được bà Chang xác định là một địa chỉ kết nối cộng đồng Việt Nam và Malaysia.























Hiệp hội hữu Nghị Malaysia - Việt Nam tổ chức lễ kỷ niệm 79 năm Quốc Khánh Nước CHXHCN Việt Nam
Sân khấu Lệ Ngọc đem “di sản” dự Lễ hội Múa Trống Kuala Lumpur tại Malaysia
Hội Nữ Trí thức Việt Nam tăng cường kết nối với Mạng lưới các nhà khoa học và kỹ sư nữ Châu Á - Thái Bình Dương
Hội Nữ trí thức Hà Nội: Những bước đi lặng lẽ mà bền bỉ trong năm 2025
Chi hội Nữ trí thức Trường ĐH KHXH &NV – ĐH Quốc gia TPHCM: Kết nối học thuật và phục vụ cộng đồng
Hội Nữ trí thức tỉnh Thái Nguyên: Quy tụ lực lượng nữ trí thức đa lĩnh vực
Cùng chuyên mục
Chủ tịch Hội Hữu nghị Malaysia – Việt Nam Trần Thị Chang: Kết nối nữ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước để cùng tạo giá trị
Chi hội Nữ trí thức Trường ĐH KHXH &NV – ĐH Quốc gia TPHCM: Kết nối học thuật và phục vụ cộng đồng
Hội Nữ trí thức tỉnh Thái Nguyên: Quy tụ lực lượng nữ trí thức đa lĩnh vực
Kết nối nữ trí thức Việt Nam toàn cầu: Từ giao lưu đến hợp tác thực chất
Chi hội Nữ trí thức Viện Dinh dưỡng – phát huy thế mạnh chuyên môn, gắn hoạt động Hội với nghiên cứu khoa học
Những nữ trí thức miệt mài với phòng thí nghiệm và các công trình khoa học