Ở những điểm du lịch cộng đồng, phụ nữ có thể xuất hiện trong nhiều phần việc, từ chuẩn bị bữa ăn, làm sản phẩm thủ công, biểu diễn văn hóa đến đón và phục vụ khách. Nhưng có mặt trong hoạt động du lịch không đồng nghĩa với việc họ có cùng mức độ chủ động, khả năng đưa ra quyết định hay cơ hội tiếp cận thị trường.
Sự khác biệt đó trở thành câu hỏi nghiên cứu của NCS. Bùi Thị Trang trong luận án về các yếu tố tác động đến sự tham gia của lao động nữ dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch tại Sơn La. Thay vì chỉ đếm số phụ nữ tham gia, nghiên cứu tìm cách lý giải vì sao họ tham gia, điều gì giúp họ có khả năng tham gia và những điều kiện bên ngoài nào mở ra hoặc thu hẹp cơ hội đó.
Cuối tháng 5/2026, NCS. Bùi Thị Trang bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Trước đó, hướng nghiên cứu này đã được phát triển qua nhiều công trình về phụ nữ, du lịch cộng đồng và phát triển du lịch bền vững.
![]() |
| NCS. Bùi Thị Trang tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch ngày 29/5/2026. Ảnh: Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN. |
Ba lớp của một quyết định tham gia
Một điểm đáng chú ý trong luận án là việc tổ chức các yếu tố nghiên cứu theo khung Động lực – Khả năng – Cơ hội, thường được viết tắt là MAO. Thay vì coi quyết định làm du lịch đơn thuần là phản ứng trước cơ hội kiếm thêm thu nhập, mô hình đặt người phụ nữ vào mối quan hệ giữa mong muốn của chính họ, năng lực họ đang có và môi trường bên ngoài.
Nhóm động lực được xem xét thông qua nhận thức của người tham gia về những tác động tích cực mà du lịch có thể mang lại đối với kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường. Nói cách khác, một người có thể quyết định bước vào hoạt động du lịch không chỉ vì tiền, mà còn vì cách họ nhìn nhận những thay đổi mà du lịch tạo ra đối với gia đình và cộng đồng.
Khả năng lại liên quan tới kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đây là nhóm yếu tố quan trọng bởi cơ hội kinh doanh hay việc làm chỉ trở thành sự tham gia thực tế khi người lao động có đủ năng lực để nắm bắt. Trong du lịch, khoảng năng lực ấy có thể liên quan đến giao tiếp với khách, tổ chức dịch vụ, hiểu sản phẩm địa phương hay xử lý những yêu cầu phát sinh trong quá trình phục vụ.
Nhóm thứ ba là cơ hội, gồm chính sách, xu hướng thị trường và tài nguyên du lịch. Cách phân chia này giúp nghiên cứu không đẩy toàn bộ trách nhiệm sang cá nhân phụ nữ. Một người có động lực và kỹ năng nhưng thiếu thị trường, thiếu điều kiện tiếp cận hoặc hoạt động ở nơi nguồn lực du lịch chưa được kết nối thì khả năng tham gia vẫn bị giới hạn.
![]() |
| Buổi bảo vệ luận án của NCS. Bùi Thị Trang tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày 29/5/2026. Ảnh: Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN. |
Để kiểm chứng mô hình, luận án xác định cỡ mẫu khảo sát 480 phiếu. Địa bàn trải từ các bản thuộc Ngọc Chiến, Mường La, Đông Sang, Mường Sang, Chiềng Hắc, Vân Hồ đến khu vực thành phố Sơn La cũ. Đây là những không gian có điều kiện và mức độ phát triển du lịch khác nhau, giúp vấn đề không bị giới hạn vào một điểm du lịch cộng đồng duy nhất.
Mô hình được xây dựng với 18 giả thuyết và sử dụng 48 biến quan sát trong khảo sát chính thức. Kết quả được công bố trong thông tin luận án cho thấy 8 giả thuyết được chấp nhận, 6 giả thuyết bị bác bỏ. Tuy nhiên, hồ sơ công khai không trình bày đầy đủ hệ số của từng quan hệ, vì vậy không nên từ con số này tự xếp hạng yếu tố nào mạnh nhất nếu chưa đọc toàn bộ luận án và bộ kết quả thống kê.
Vai trò của môi trường xã hội
NCS. Bùi Thị Trang còn đặt thêm một biến vào mô hình là nhận thức xã hội về vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số. Đây là phần làm cho nghiên cứu vượt ra ngoài bài toán kỹ năng nghề nghiệp.
Cùng có kiến thức và cùng nhìn thấy cơ hội du lịch, nhưng không phải mọi người đều hoạt động trong một môi trường xã hội giống nhau. Những quan niệm về công việc phù hợp với phụ nữ, khả năng tham gia quyết định hay cách phân chia trách nhiệm trong cộng đồng có thể liên quan đến việc một cơ hội kinh tế được biến thành hành động tới mức nào.
Luận án kiểm định vai trò điều tiết của nhận thức xã hội đối với mối quan hệ giữa chín nhóm yếu tố thuộc khung Động lực – Khả năng – Cơ hội và sự tham gia của lao động nữ dân tộc thiểu số. Cách đặt vấn đề này tránh một lối giải thích đơn giản rằng phụ nữ ít tham gia chỉ vì thiếu kỹ năng hoặc thiếu vốn.
Nó cũng cho thấy lý do các chương trình hỗ trợ sinh kế nếu chỉ dừng ở một lớp tập huấn có thể chưa chạm hết vấn đề mà nghiên cứu đang đặt ra. Năng lực cá nhân là một phần, còn cơ hội thị trường, môi trường chính sách và cách cộng đồng nhìn nhận vai trò của phụ nữ thuộc những lớp khác của cùng một bài toán.
Một trường hợp cụ thể trên Phụ Nữ Mới từng cho thấy du lịch cộng đồng có thể mở ra không gian để phụ nữ bản địa tham gia tổ chức dịch vụ, huy động cộng đồng và khai thác những giá trị văn hóa sẵn có. Công trình của NCS. Bùi Thị Trang tiếp cận câu chuyện rộng hơn, bằng cách đưa nhiều nhóm yếu tố vào một mô hình để kiểm định trên địa bàn Sơn La.
![]() |
| NCS. Bùi Thị Trang cùng các giảng viên, đồng nghiệp tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch. Ảnh: Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN. |
Không nên coi mọi phụ nữ dân tộc thiểu số là một nhóm giống nhau
Một giới hạn đáng chú ý lại nằm ngay trong phần hướng nghiên cứu tiếp theo do chính luận án xác định. Mô hình hiện chưa đi sâu vào sự khác biệt giữa từng dân tộc, bản sắc văn hóa và các chuẩn mực xã hội cụ thể. Tác giả đề xuất những nghiên cứu sau cần xem xét rõ hơn các yếu tố này, đồng thời mở rộng khảo sát sang những địa bàn có điều kiện tương đồng ở Trung du và miền núi phía Bắc.
Điểm này quan trọng bởi khái niệm “phụ nữ dân tộc thiểu số” bao gồm nhiều cộng đồng khác nhau về ngôn ngữ, sinh kế, tổ chức gia đình, văn hóa và mức độ phát triển du lịch. Một kết quả thu được ở những điểm khảo sát tại Sơn La vì vậy không nên được kéo thành kết luận chung cho phụ nữ dân tộc thiểu số trên toàn quốc.
Nghiên cứu cũng để ngỏ một câu hỏi khác. Tham gia nhiều hơn vào du lịch có thực sự làm thay đổi quyền quyết định, thu nhập hay vị thế của phụ nữ hay không là vấn đề cần được kiểm chứng riêng. Luận án hiện tập trung vào những yếu tố dẫn tới sự tham gia, không phải đo toàn bộ hệ quả của quá trình đó.
Trước luận án, NCS. Bùi Thị Trang đã tham gia các nghiên cứu về phụ nữ dân tộc thiểu số trong du lịch cộng đồng ở Trung du và miền núi phía Bắc, quyền năng của phụ nữ trong phát triển du lịch và các trường hợp tại Sơn La. Chuỗi công trình cho thấy vấn đề được phát triển qua nhiều bước thay vì chỉ xuất hiện ở luận án cuối khóa.
Ở góc độ thực tiễn, giá trị của hướng nghiên cứu không nằm ở việc đưa ra một công thức chung cho mọi điểm đến. Nó cung cấp một cách tách bài toán thành những thành phần cụ thể hơn. Nếu sự tham gia của phụ nữ phụ thuộc đồng thời vào động lực, khả năng, cơ hội và môi trường xã hội, thì câu hỏi đối với một địa phương không còn đơn giản là có bao nhiêu phụ nữ đang làm du lịch, mà còn là họ đang tham gia ở mức nào và điều gì quyết định mức độ chủ động ấy.




















Cô gái Thái làm du lịch ở Mường Lay
Những dự án khởi nghiệp ấn tượng, hiệu quả của phụ nữ dân tộc thiểu số
Chọn người có uy tín vùng dân tộc thiểu số không phân biệt giới
Cùng chuyên mục
Điều gì giúp phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia làm du lịch
Cô giáo hơn 45 năm tận tụy gắn bó với nghề dạy trẻ khuyết tật
Cô giáo gieo tình yêu nhạc cụ truyền thống cho giới trẻ giữa đại ngàn Quảng Ngãi
TS.BS Dư Thị Ngọc Thu nhận giải 'Người hùng thầm lặng' về ghép tạng
Những công trình thủy nông kể gì về Việt Nam thời cận đại
Phát triển tiếng Việt cho trẻ lớp ghép từ hoạt động chơi