![]() |
| TS Trần Mai Trang, Trường Đại học Kinh tế, Đại Học Quốc gia Hà Nội. |
Túi nilon đang hiện diện ở gần như toàn bộ chuỗi sản xuất, phân phối và tiêu dùng nông sản. Từ khâu thu hoạch, sản phẩm đã cần bao gói; đến sơ chế, bảo quản tiếp tục sử dụng màng lót, túi lót, bao bì nhiều lớp. Khi nông sản được đưa ra chợ truyền thống, mỗi mặt hàng thường được đựng trong một túi riêng. Tại siêu thị, các loại màng PE, màng co cũng được sử dụng phổ biến.
Tại tham luận về một số giải pháp giảm sử dụng túi nilon trong bao gói nông sản, TS Trần Mai Trang, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, cho biết quy mô sử dụng nhựa và túi nilon hiện nay vẫn ở mức lớn. Theo số liệu cho thấy mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 3,1 triệu tấn chất thải nhựa trên đất liền, trong đó hơn 10% rò rỉ ra sông, biển. Số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy khoảng 30 tỷ túi nilon được sử dụng và thải bỏ mỗi năm, trong đó hơn 80% là túi dùng một lần.
Riêng tại Hà Nội và TPHCM, lượng chất thải nhựa được ước tính khoảng 80 tấn mỗi ngày, trong khi tỷ lệ chất thải nhựa được tái chế mới đạt khoảng 10-27%, tùy nguồn thống kê. Hà Nội được dẫn số liệu phát sinh khoảng 1.400 tấn rác mỗi ngày, trong đó hơn 60% là rác thải nhựa dùng một lần. Trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 1 kg túi nilon mỗi tháng.
Áp lực từ bao bì nhựa còn gia tăng cùng với sự phát triển của thương mại điện tử và dịch vụ giao đồ ăn. Bao gói trong thương mại điện tử có thể nhiều hơn khoảng 4,8-5 lần so với kênh truyền thống. Dự báo của VCOM được bà dẫn lại cho thấy lượng rác thải nhựa từ thương mại điện tử có thể lên tới 800.000 tấn vào năm 2030, với tốc độ tăng khoảng 25% mỗi năm.
Không chỉ xuất hiện ở khâu bán lẻ, bao bì nhựa còn được sử dụng xuyên suốt chuỗi nông sản. Rau, củ, quả, trái cây; gạo, ngũ cốc; cà phê, chè, gia vị đều sử dụng những nhóm bao gói khác nhau. Điều này tạo ra áp lực kép, vừa đối với môi trường, vừa đối với sức khỏe.
Vấn đề môi trường tập trung ở khả năng phân hủy và nguy cơ ô nhiễm, trong khi những lo ngại về sức khỏe liên quan đến sự hiện diện của vi nhựa. Việc sử dụng các sản phẩm nhựa với thực phẩm nóng cũng được đặt trong nhóm vấn đề cần lưu ý.
Chính sách đã có nhưng việc thực hiện chưa đồng đều
Về chính sách, Việt Nam đã hình thành khung pháp lý liên quan đến bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều quy định hiện nay vẫn mang tính khuyến khích, trong khi một số yêu cầu bắt buộc được triển khai theo lộ trình.
![]() |
| TS Trần Mai Trang, trình bày tham luận tại Diễn đàn Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường trong bảo quản, chế biến nông sản. |
Chính sách hướng tới việc dừng sản xuất và nhập khẩu nhựa dùng một lần vào năm 2030. Hà Nội cũng là một trong những địa phương triển khai các giải pháp giảm sử dụng túi nilon tại chợ dân sinh. Theo lộ trình được bà đề cập, từ tháng 5/2027, chợ và cửa hàng tiện lợi sẽ không phát miễn phí túi nilon, qua đó tạo sức ép giảm lượng bao bì sử dụng trong hoạt động mua bán thực phẩm.
Một số mô hình bước đầu cho thấy việc thay đổi cách cung cấp bao bì có thể tạo ra chuyển biến. TS Trần Mai Trang dẫn trường hợp AEON triển khai hình thức cho thuê túi và một số mô hình cộng đồng hạn chế việc mang túi nilon vào khu vực đảo Cù Lao Chàm như những ví dụ về thay đổi hành vi gắn với chính sách và cách tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, việc giảm túi nilon vẫn gặp nhiều rào cản. Nguyên nhân đầu tiên nằm ở yếu tố kinh tế. Túi nilon có giá thành thấp, tiện lợi và hiện chưa có vật liệu thay thế nào đồng thời đáp ứng đầy đủ hai yêu cầu này ở quy mô lớn.
Ở góc độ kỹ thuật, các giải pháp thay thế cũng phải giải quyết đồng thời nhiều yêu cầu như chi phí, khả năng bảo quản, độ bền và khả năng phân hủy. Nếu chỉ thay vật liệu mà không thay đổi quy trình, hiệu quả giảm chất thải có thể không đạt như kỳ vọng.
Thói quen tiêu dùng cũng là một nguyên nhân quan trọng. Hình ảnh “mỗi mặt hàng một túi” vẫn phổ biến tại các chợ truyền thống. Bên cạnh đó, một số loại túi được quảng bá là tự hủy thực chất chỉ có khả năng phân rã, sau đó tiếp tục tồn tại dưới dạng vi nhựa và cần thời gian rất dài để phân hủy hoàn toàn.
Hạ tầng thu gom và tái chế cũng chưa đồng bộ. Trong khi đó, các chính sách hiện nay chủ yếu tập trung vào những cơ sở sản xuất, bán lẻ quy mô lớn như siêu thị; khu vực chợ dân sinh và các cơ sở nhỏ lẻ chưa được bao phủ tương xứng.
Một khoảng cách đáng chú ý khác là giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh. Theo số liệu được TS Trần Mai Trang dẫn tại tham luận, có tới 72% người được hỏi cho biết sẵn sàng chi thêm để sử dụng bao bì xanh, nhưng tỷ lệ thường xuyên mang túi riêng khi đi chợ hoặc sử dụng giỏ hàng cá nhân chỉ khoảng 15%. Có thể thấy khoảng cách giữa ý định tiêu dùng xanh và hành vi tiêu dùng xanh là rất lớn.
Không thể chỉ thay túi, cần thiết kế lại chuỗi bao gói
Từ những hạn chế trên, TS Trần Mai Trang cho rằng giải pháp cần được thiết kế theo từng nhóm vấn đề thay vì chỉ tập trung vào việc thay thế túi nilon bằng một loại vật liệu khác.
Với các chợ dân sinh và cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, cần tăng cường tuyên truyền, hạn chế hoặc tiến tới không phát túi miễn phí, đồng thời nghiên cứu các phương án thay thế phù hợp như khay luân chuyển, giỏ hàng, sọt và những hình thức bao gói có thể sử dụng nhiều lần.
![]() |
Đối với vật liệu thay thế, cần tránh cách tiếp cận chỉ đơn thuần chuyển từ vật liệu này sang vật liệu khác. Nếu hạn chế nằm ở quy trình thì phải thiết kế lại cả chuỗi bao gói sản phẩm, từ khâu sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến phân phối.
Thương mại điện tử là một khu vực cần được chú trọng khi lượng bao bì tiếp tục tăng nhanh. Các đơn vị kinh doanh trên sàn thương mại điện tử cần giảm lượng lớp lót, vật liệu chèn và bao bì không cần thiết; nghiên cứu gom chung các sản phẩm trong một kiện hàng và kiểm soát những dạng bao bì dễ bị hiểu nhầm là bao bì thân thiện với môi trường.
Một giải pháp khác được đề cập là tăng cường phối hợp, mua chung và tổ chức lại việc sử dụng bao bì nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng với các cơ sở sản xuất nhỏ, bởi nếu toàn bộ chi phí thu gom, xử lý hoặc chuyển đổi vật liệu được đẩy về phía doanh nghiệp nhỏ, khả năng thực hiện sẽ bị hạn chế.
TS Trần Mai Trang cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng dữ liệu nền về sử dụng bao bì. Hiện vẫn thiếu số liệu đầy đủ về lượng túi nilon được sử dụng trong từng nhóm nông sản và từng khâu của chuỗi. Việc khảo sát, thu thập dữ liệu sẽ giúp chính sách có cơ sở xác định đúng điểm phát sinh chất thải và lựa chọn giải pháp phù hợp.
Với hoạt động xuất khẩu nông sản, việc giảm bao bì nhựa cần gắn với các tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Các yêu cầu về bao bì tại những thị trường như châu Âu đang tạo thêm áp lực để doanh nghiệp Việt Nam chuẩn hóa quy trình, từ sản xuất đến đóng gói.
Giảm túi nilon trong bao gói nông sản vì vậy không chỉ là câu chuyện thay một chiếc túi bằng vật liệu khác. Đây là quá trình thay đổi đồng thời vật liệu, thiết kế bao bì, quy trình sản xuất phân phối, hệ thống thu gom, tái chế và hành vi tiêu dùng. Chỉ khi các mắt xích này được triển khai đồng bộ, mục tiêu giảm chất thải nhựa trong chuỗi nông sản mới có thể đạt hiệu quả thực chất.



















Hà Nội thúc đẩy công nghệ xanh trong bảo quản, chế biến nông sản
Bao bì sinh học cần được quản lý theo toàn bộ vòng đời sản phẩm
Hà Nội cần đưa công nghệ vào toàn bộ chuỗi giá trị nông sản
Công nghệ cao giúp giảm thất thoát nông sản sau thu hoạch
Cùng chuyên mục
Giảm túi nilon trong bao gói nông sản cần thay đổi cả vật liệu và quy trình
Bao bì sinh học cần được quản lý theo toàn bộ vòng đời sản phẩm
Hà Nội thúc đẩy công nghệ xanh trong bảo quản, chế biến nông sản
Đánh giá sinh viên trong bối cảnh AI trở thành công cụ học tập
AI hỗ trợ giảng viên, nhưng không thay thế vai trò chuyên môn
Australia và Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm vẻ triển khai chính quyền hai cấp hiệu quả