![]() |
| NCS. Trần Thị Hương Xuân trình bày luận án về vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Vật lý 10 tại buổi bảo vệ cấp trường ngày 7/8/2026. Ảnh: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. |
Trong một tiết Vật lý, nếu phần lớn thời gian được dùng để giáo viên trình bày kiến thức rồi học sinh ghi chép, những hoạt động như đặt giả thuyết, tranh luận, giải thích một hiện tượng hay thử vận dụng định luật vào tình huống mới dễ bị thu hẹp. NCS. Trần Thị Hương Xuân, giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, nghiên cứu cách tổ chức khác: một phần việc tiếp cận kiến thức được thực hiện trước giờ lên lớp, còn thời gian thầy trò gặp trực tiếp được dành nhiều hơn cho hoạt động khám phá và giải quyết nhiệm vụ Vật lí.
Cách tổ chức đó có tên chuyên môn là lớp học đảo ngược. Đây cũng là đối tượng chính trong luận án “Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Động lực học – Vật lý lớp 10 nhằm phát triển năng lực Vật lý của học sinh” mà NCS. Trần Thị Hương Xuân bảo vệ cấp trường ngày 7/8/2026. Nghiên cứu không đặt mục tiêu đơn giản là chuyển bài giảng từ lớp học lên Internet, mà xây dựng và kiểm chứng một quy trình trong đó những hoạt động trước, trong và sau giờ học được liên kết với nhau.
Trước luận án, ThS. Trần Thị Hương Xuân đã theo hướng nghiên cứu phương pháp dạy học Vật lý trong nhiều năm. Hồ sơ khoa học của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng ghi nhận bà công tác tại trường từ năm 2014, có học vị thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Vật lý và từng chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở về phát triển năng lực Vật lí thông qua mô hình lớp học đảo ngược trong phần Động lực học lớp 10.
Một tiết học bắt đầu từ trước khi học sinh bước vào lớp
Luận án tổ chức việc học thành ba pha. Trước khi đến lớp, học sinh tiếp cận học liệu trực tuyến và thực hiện nhiệm vụ được giao. Khi gặp giáo viên trực tiếp, phần kiến thức đã chuẩn bị trở thành nền để tiếp tục khám phá, trao đổi và vận dụng. Sau giờ học, hoạt động trực tuyến được sử dụng để củng cố hoặc hoàn thiện nhiệm vụ. Nghiên cứu thiết kế tiến trình cho hai chủ đề thuộc phần Động lực học Vật lý 10 và xây dựng khung đánh giá năng lực gồm 16 chỉ số hành vi với bốn mức độ.
Điều này giúp phân biệt lớp học đảo ngược với việc giáo viên đơn thuần gửi một đoạn video rồi yêu cầu học sinh tự học. Trong một nghiên cứu công bố năm 2024, Trần Thị Hương Xuân cùng Nguyễn Bảo Hoàng Thanh và Nguyễn Thị Nhị đã cụ thể hóa quy trình bằng bài “Định luật I Newton”. Học sinh xem bài giảng và trả lời những câu hỏi tương tác trước ở nhà, chẳng hạn dự đoán chuyển động của viên bi khi thay đổi độ nghiêng của máng hoặc khi bỏ qua ma sát. Những câu trả lời đó trở thành nguyên liệu cho quá trình khám phá tiếp theo, thay vì việc lên lớp rồi nghe lại toàn bộ nội dung vừa xem.
![]() |
| Toàn cảnh buổi bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường của NCS. Trần Thị Hương Xuân. Luận án thiết kế tiến trình dạy học hai chủ đề thuộc phần Động lực học Vật lý 10. Ảnh: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. |
Ở đây, phần “đảo ngược” không chỉ nằm ở nơi học sinh nghe giảng mà còn ở cách sử dụng thời gian trực tiếp với giáo viên. Khi phần tiếp nhận kiến thức ban đầu đã được chuẩn bị, giờ học có thể dành nhiều hơn cho những biểu hiện mà chương trình Vật lý hướng tới: quan sát, nêu câu hỏi, giải thích hiện tượng, vận dụng kiến thức và trao đổi cách giải quyết vấn đề. Vì vậy, nghiên cứu của ThS. Trần Thị Hương Xuân kết hợp lớp học đảo ngược với dạy học khám phá thay vì xem hai hoạt động trực tuyến và trực tiếp như hai phần tách biệt.
Luận án sau đó đưa quy trình này vào thực nghiệm và so sánh nhóm học theo mô hình lớp học đảo ngược với nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Thông tin công bố sau buổi bảo vệ cho biết nhóm thực nghiệm có sự phát triển ở ba thành tố năng lực Vật lý, trong đó nổi bật là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lý. Việc đánh giá kết hợp dữ liệu định lượng với quan sát, phỏng vấn và sản phẩm học tập.
Một nghiên cứu trường hợp của nhóm đã được đưa vào Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Khoa học Giáo dục năm 2024 cũng so sánh lớp học đảo ngược với lớp đối chứng học theo mô hình truyền thống để phân tích sự phát triển năng lực Vật lý. Chuỗi nghiên cứu này cho thấy luận án năm 2026 được phát triển từ quá trình thử nghiệm và hoàn thiện phương pháp trước đó, chứ không bắt đầu từ một mô hình chỉ mới được đề xuất trên lý thuyết.
Không phải học sinh tự học, giáo viên đứng ngoài
Một hiểu lầm dễ gặp với lớp học đảo ngược là giáo viên giảm việc bằng cách giao phần lý thuyết cho học sinh tự xử lý ở nhà. Trên thực tế, việc chuyển một phần học tập ra ngoài giờ trực tiếp lại đặt thêm yêu cầu đối với thiết kế bài học. Học liệu trước lớp phải đủ rõ để học sinh có thể tiếp cận, nhiệm vụ phải buộc các em thực sự suy nghĩ, còn giáo viên cần biết học sinh đã chuẩn bị tới đâu để điều chỉnh hoạt động khi gặp mặt.
Khả năng áp dụng mô hình cũng không chỉ phụ thuộc vào ý tưởng của người thiết kế. Năm 2023, Trần Thị Hương Xuân cùng cộng sự khảo sát 351 giáo viên tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ về ý định sử dụng lớp học đảo ngược. Các yếu tố được xác định gồm cảm nhận về tính hữu ích, mức độ dễ sử dụng, mục đích dạy học, thói quen cũng như điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và chính sách hỗ trợ. Điều đó cho thấy một mô hình có thể hoạt động trong nghiên cứu chưa mặc nhiên có thể được chuyển nguyên trạng sang mọi trường học.
![]() |
| NCS. Trần Thị Hương Xuân cùng các giảng viên và thành viên Hội đồng sau buổi bảo vệ luận án ngày 7/8/2026. Ảnh: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. |
Sự khác biệt về thiết bị, kết nối Internet, khả năng tự học của học sinh hay quỹ thời gian ở nhà đều có thể tác động tới giai đoạn chuẩn bị trước lớp. Nếu một bộ phận học sinh không tiếp cận được học liệu hoặc không hoàn thành nhiệm vụ, giáo viên sẽ phải xử lý khoảng cách đó trước khi tổ chức phần khám phá chung. Ngược lại, nếu giờ học trực tiếp vẫn chủ yếu dùng để giảng lại những gì học sinh vừa xem, việc chuyển bài giảng lên mạng chỉ tạo thêm một lớp công việc chứ chưa làm thay đổi cách học.
Giới hạn này cũng cần được giữ khi đọc kết quả luận án. Nguồn công khai của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng xác nhận nghiên cứu có nhóm thực nghiệm, nhóm đối chứng, hai chủ đề dạy học và bộ tiêu chí đánh giá; tuy nhiên bản tin chưa công bố đầy đủ quy mô mẫu thực nghiệm, thời gian can thiệp, các chỉ số hiệu quả hay toàn bộ bảng kiểm định thống kê. Vì vậy, kết quả có thể được trình bày đúng ở phạm vi thực nghiệm của luận án, nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận lớp học đảo ngược luôn hiệu quả hơn cách dạy truyền thống với mọi trường, mọi giáo viên và mọi nhóm học sinh.
Cách đặt giới hạn như vậy không làm giảm ý nghĩa của nghiên cứu. Ngược lại, nó xác định rõ phần việc tiếp theo: thử quy trình ở nhiều trường và nhóm học sinh hơn, với những nội dung khác ngoài hai chủ đề Động lực học; công bố chi tiết hơn dữ liệu trước và sau can thiệp; đồng thời phân tích điều kiện khiến mô hình hoạt động tốt hoặc gặp trở ngại. Khi đó, có thể tách được hiệu quả đến từ cấu trúc lớp học đảo ngược với ảnh hưởng của giáo viên, học liệu, công nghệ và đặc điểm của học sinh.
Nghiên cứu của ThS. Trần Thị Hương Xuân vì thế không đơn giản đặt câu hỏi “có nên cho học sinh xem bài ở nhà hay không”. Bài toán sâu hơn là sử dụng thời gian học trực tiếp như thế nào sau khi một phần kiến thức đã được chuyển ra trước giờ lên lớp. Nếu học sinh có thể tiếp cận kiến thức cơ bản một mình, khoảng thời gian có giáo viên và bạn bè bên cạnh có thể được dành cho những việc khó hơn: hỏi vì sao, kiểm tra dự đoán, trao đổi cách giải và vận dụng kiến thức vào một tình huống chưa có sẵn đáp án. Đó mới là phần làm cho giờ Vật lý không chỉ còn là nghe giảng.



















Nữ trí thức- Người kiến tạo trong hệ sinh thái giáo dục hiện đại
Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cho phép tổ chức hoạt động STEM ngoài nhà trường
Trường hè Toán học 2026: Gieo mầm đam mê khoa học, mở rộng cánh cửa STEAM cho nữ sinh
Ban hành Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông
Cùng chuyên mục
Đưa giá trị dược liệu Việt vào sản phẩm từ nguyên liệu bản địa
Mô phỏng cấu trúc tự nhiên để giảm rung cho vật liệu composite
Khi giờ Vật lý không chỉ để nghe giảng
Chính sách thủy sản qua góc nhìn của TS. Lê Thị Thanh Loan
Làm chuỗi nông sản xanh, doanh nghiệp cần đổi từ bên trong
Đưa tri thức khoa học vào sản xuất, tạo giá trị từ tài nguyên bản địa