![]() |
| TS Lê Thị Mỹ Hạnh cùng nhóm nghiên cứu làm việc tại Khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Belarus trong quá trình hợp tác nghiên cứu về vật liệu màng, tháng 6/2023. Ảnh: VAST. |
Một màng vật liệu mỏng chứa dịch chiết từ hạt nhãn đã được nhóm của TS Lê Thị Mỹ Hạnh dùng để thử bảo quản chính quả nhãn ở nhiệt độ môi trường. Kết quả được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố cho thấy mẫu quả có thể được theo dõi tới 8 ngày; hồ sơ nghiệm thu còn ghi nhận hàm lượng vitamin C và mức hao hụt khối lượng tốt hơn mẫu đối chứng không được bảo quản bằng màng. Đây mới là kết quả thử nghiệm, nhưng nó tạo ra một vòng sử dụng đáng chú ý: phụ phẩm của quả nhãn được đưa trở lại bài toán kéo dài chất lượng của chính loại quả đó.
Người đứng đầu nhóm nghiên cứu là TS Lê Thị Mỹ Hạnh. Khi nhiệm vụ mang mã QTBY01.05/22-23 được thực hiện giai đoạn 2022–2023, hồ sơ chính thức ghi cơ quan chủ trì là Viện Kỹ thuật nhiệt đới, phối hợp với Trường Đại học Quốc gia Belarus. Hiện danh sách cán bộ của Viện Khoa học vật liệu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ghi bà Hạnh là cán bộ biên chế Phòng Hóa sinh – Môi trường nhiệt đới. Việc tách rõ hai mốc này cần thiết để không biến đơn vị công tác tại thời điểm nghiên cứu thành chức danh hiện tại.
Hạt nhãn không được nghiền rồi đưa thẳng vào màng
Điểm kỹ thuật của nghiên cứu nằm ở bước lấy hoạt chất từ phụ phẩm. Nhóm thử ba hệ dung môi để chiết polyphenol từ bột hạt nhãn. Hệ ethanol – nước cho hàm lượng polyphenol cao nhất, đạt 179 mg GAE/g. Dịch chiết này thể hiện khả năng bắt gốc tự do trong phép thử DPPH với IC50 là 65,3 µg/ml, đồng thời cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đối với E. coli và S. aureus.
Sau bước chiết, dịch giàu polyphenol mới được phối hợp với cellulose acetate để tạo màng bằng phương pháp đúc dung môi. Bài báo khoa học mô tả các tỷ lệ cellulose acetate/dịch chiết khác nhau gồm 10/0, 10/1, 10/1,5 và 10/2. Việc bổ sung dịch chiết làm độ bền kéo của màng tăng từ 38,9 lên 43,5 MPa trong các mẫu khảo sát, trong khi độ giãn dài khi đứt giảm nhẹ. Nhóm xác định công thức 10/1,5 có tập hợp tính chất cơ lý, nhiệt và hoạt tính sinh học phù hợp nhất trong phạm vi thí nghiệm.
Cách tiếp cận ấy khác với việc chỉ dùng phụ phẩm làm chất độn giá rẻ. Giá trị của hạt nhãn nằm ở thành phần polyphenol được tách ra, đo hoạt tính rồi đưa vào một nền polymer để bổ sung chức năng cho màng. Đây cũng là một lát cắt khác của hướng khai thác giá trị từ phụ phẩm nông nghiệp mà các nhóm khoa học trong nước đang theo đuổi, từ xúc tác sinh học trong chế biến nông sản đến những vật liệu mới có nguồn gốc từ phần nguyên liệu trước đây ít được tận dụng.
![]() |
| Quả và hạt nhãn. Hạt nhãn là nguyên liệu được nhóm nghiên cứu sử dụng để chiết polyphenol; ảnh chỉ có tính minh họa, không phải mẫu của thí nghiệm. Ảnh: Ivar Leidus/Wikimedia Commons. |
Phần việc của TS Lê Thị Mỹ Hạnh nằm ở đâu?
Hồ sơ nhiệm vụ của Viện Hàn lâm xác định TS Lê Thị Mỹ Hạnh là chủ nhiệm phía Việt Nam; bài giới thiệu kết quả cũng ghi nhóm do bà làm trưởng nhóm. Trong quá trình thực hiện, các nhà khoa học Việt Nam hợp tác với GS.TS Savitskaya Tachiana Aleksandrovna và các cộng sự tại Khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Belarus để chế tạo, đặc trưng cấu trúc và đánh giá tính chất của vật liệu màng.
Kết quả được phát triển thành bài báo Preparation and Characterization of Film Based on Cellulose Acetate with Longan Seed Extract, công bố trực tuyến tháng 6/2024 trên Waste and Biomass Valorization. Danh sách tác giả gồm Lê Thị Mỹ Hạnh, Bùi Văn Cường, Vũ Xuân Minh, Phạm Thị Lan, T. A. Savitskaya và Trần Đại Lâm. Việc bà Hạnh đứng đầu danh sách phù hợp với vai trò chủ nhiệm đã được nguồn quản lý nhiệm vụ xác nhận, nhưng không phải căn cứ để quy toàn bộ kết quả cho một người. Công trình là sản phẩm của một nhóm nghiên cứu và một hợp tác quốc tế.
Hướng nghiên cứu về màng bảo quản không dừng ở công trình hạt nhãn. Hồ sơ hiện hành của Phòng Hóa sinh – Môi trường nhiệt đới còn ghi tên Lê Thị Mỹ Hạnh trong nhóm sáu tác giả của Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 4094, cấp ngày 15/4/2025, cho phương pháp sản xuất chế phẩm tạo màng sinh học bảo quản nông sản. Tuy nhiên, đây là một tài sản trí tuệ khác; không có căn cứ để gọi nó là “bằng độc quyền của màng hạt nhãn” hay gộp hai công trình thành một.
![]() |
| Hạt nhãn nhìn cận cảnh. Trong nghiên cứu của nhóm TS Lê Thị Mỹ Hạnh, phần hạt được nghiền và chiết polyphenol trước khi dịch chiết được đưa vào nền cellulose acetate. Ảnh minh họa: Omar Hoftun/Wikimedia Commons; không phải nguyên liệu thí nghiệm của nhóm. |
Tám ngày vẫn còn một khoảng cách dài tới thị trường
Con số 8 ngày dễ trở thành phần hấp dẫn nhất của nghiên cứu, nhưng cũng là nơi cần đọc thận trọng nhất. Hồ sơ nhiệm vụ chỉ cho phép khẳng định màng đã được thử nghiệm bảo quản quả nhãn trong điều kiện nghiên cứu ở nhiệt độ môi trường và cho kết quả khả quan so với mẫu đối chứng. Các tài liệu đã kiểm tra chưa cho thấy sản phẩm được sản xuất ở quy mô công nghiệp, sử dụng trong chuỗi phân phối thương mại hay hoàn tất các yêu cầu quản lý đối với vật liệu tiếp xúc thực phẩm.
Đó là ranh giới giữa một vật liệu có dữ liệu phòng thí nghiệm tốt và một bao bì có thể đi vào đời sống. Khi tăng quy mô, nhóm nghiên cứu còn phải đối diện những câu hỏi khác: quy trình có lặp lại ổn định hay không, chi phí chiết tách và tạo màng ra sao, tính chất của vật liệu thay đổi thế nào giữa các lô nguyên liệu, cũng như độ an toàn và khả năng bảo quản trong điều kiện vận chuyển thực tế. Bản thân các nguồn giới thiệu công trình cũng thừa nhận quy trình sản xuất của dòng vật liệu này còn phức tạp và chi phí là một trở ngại cần giải quyết.
Một hướng khác trên Phụ Nữ Mới từng đề cập màng nhựa phân hủy sinh học từ tinh bột sắn, còn nghiên cứu của TS Lê Thị Mỹ Hạnh tập trung vào cellulose acetate có bổ sung hoạt chất từ hạt nhãn để tạo chức năng kháng khuẩn và chống oxy hóa. Cùng đứng dưới chiếc ô vật liệu xanh, nhưng nguyên liệu, cơ chế, yêu cầu kỹ thuật và đích ứng dụng không giống nhau.
Sự phân biệt này cũng giúp tránh bước nhảy thường gặp khi kể chuyện khoa học: từ một kết quả tốt trong phòng thí nghiệm sang khẳng định sản phẩm “sắp thay thế nhựa”. Công trình của nhóm TS Lê Thị Mỹ Hạnh hiện đáng chú ý ở chỗ đã đi được một chuỗi tương đối đầy đủ ở quy mô nghiên cứu: lựa chọn phụ phẩm, tách hoạt chất, định lượng, tạo vật liệu, đo cơ lý – kháng khuẩn – chống oxy hóa rồi đem vật liệu thử trên quả thật.
Khoảng cách tiếp theo là đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Đây mới là nơi dữ liệu về khả năng sản xuất, giá thành, độ bền, tiêu chuẩn an toàn và nhu cầu của doanh nghiệp có thể quyết định một vật liệu tốt trong phòng thí nghiệm có trở thành sản phẩm hay không.
Giá trị không chỉ nằm ở việc “tận dụng đồ bỏ đi”
Nếu chỉ kể đây là câu chuyện biến hạt nhãn thành vật liệu xanh, phần tri thức quan trọng nhất sẽ bị làm mờ. Nhóm nghiên cứu không sử dụng hạt nhãn vì nó rẻ hoặc sẵn có đơn thuần. Họ tìm cách xác định thành phần có chức năng, chọn điều kiện chiết, đo hoạt tính, thử các tỷ lệ phối trộn rồi đánh giá vật liệu bằng những chỉ số cụ thể.
Cách làm ấy biến một phụ phẩm nông nghiệp thành một nguồn nguyên liệu có thể định lượng và thiết kế. 179 mg GAE/g, IC50 65,3 µg/ml hay tỷ lệ CA/DC 10/1,5 không phải những con số để trang trí cho câu chuyện “công nghệ xanh”; chúng cho biết vì sao một công thức được lựa chọn thay vì một công thức khác.
Với TS Lê Thị Mỹ Hạnh, đóng góp đáng chú ý vì thế nằm ở cả hướng nghiên cứu lẫn phương pháp: đưa hoạt chất từ một phụ phẩm quen thuộc vào vật liệu bảo quản và kiểm tra nó bằng một chuỗi phép đo có thể đối chiếu. Tám ngày bảo quản mới là một bước thử. Phần khó hơn vẫn ở phía trước, nơi vật liệu phải chứng minh được độ an toàn, tính ổn định, hiệu quả kinh tế và khả năng sản xuất lớn nếu muốn rời phòng thí nghiệm.
Ba con số cần đọc đúng
- 179 mg GAE/g: hàm lượng polyphenol tổng cao nhất của dịch chiết hạt nhãn trong các điều kiện chiết được khảo sát; không phải hàm lượng polyphenol của cả quả nhãn.
- 65,3 µg/ml: IC50 trong phép thử DPPH của dịch chiết. DPPH là phép thử trong phòng thí nghiệm để đánh giá khả năng bắt gốc tự do; con số này không phải bằng chứng về tác dụng sức khỏe ở người.
- 8 ngày: thời gian thử bảo quản quả nhãn bằng màng CAD1,5 ở nhiệt độ môi trường được nhóm báo cáo. Đây là kết quả thực nghiệm, không phải thời hạn sử dụng đã được xác nhận cho sản phẩm thương mại.





















Cử nhân Phạm Thanh Hoa phát triển màng khử mặn từ vỏ trấu
Việt Nam nghiên cứu chế tạo thành công màng nhựa phân hủy sinh học hoàn toàn từ tinh bột sắn
“Đánh thức” giá trị nông sản Việt từ phòng thí nghiệm của những nữ khoa học gia Bách khoa
Bước tiến của nhà khoa học nữ trong thương mại hóa sáng chế
Cùng chuyên mục
NCS Nguyễn Thị Như Quỳnh dùng máy học phân loại điện não Parkinson
Dùng dữ liệu mưa dự báo sớm nguy cơ thiếu nước ở Tây Nguyên
Biến dạng 0,5% làm độ dẫn Hall trong cobalt tăng đến 24%
Ba nữ nghiên cứu Việt góp sức kiểm chứng que thử nấm 15 phút
Màng chứa chiết xuất hạt nhãn thử bảo quản quả trong 8 ngày
393 người Hà Nội cho thấy khoảng trống trong nhận thức giao thông