![]() |
| PGS.TS Ngô Thị Hoa (ngoài cùng bên trái) và PGS.TS.BS Lê Thùy (thứ ba từ trái sang) tại buổi làm việc về dự án nấm Talaromycosis, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, ngày 21/2/2025. Nguồn: Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. |
Một vạch kết quả có thể xuất hiện sau 15 phút. Nhưng phía sau khoảng thời gian ngắn ấy là nhiều năm thu thập mẫu bệnh phẩm, theo dõi người bệnh, phân tích dữ liệu và đối chiếu với phương pháp nuôi cấy vốn mất nhiều ngày.
Công trình công bố trên Clinical Infectious Diseases đầu năm 2026 về que thử Mp1p có tên ba nhà nghiên cứu nữ gắn với Việt Nam: ThS Nguyễn Thị Mai Thu, PGS.TS Ngô Thị Hoa và PGS.TS.BS Lê Thùy. Điều đáng nói là phần việc cụ thể họ đảm nhiệm trong chuỗi nghiên cứu.
Khi phương pháp chuẩn vẫn có thể đến quá muộn
Talaromycosis là bệnh nấm xâm lấn lưu hành ở Đông Nam Á, đặc biệt nguy hiểm với người suy giảm miễn dịch. Chẩn đoán truyền thống dựa nhiều vào nuôi cấy nấm từ máu hoặc bệnh phẩm khác. Theo nhóm tác giả, quá trình này có thể kéo dài 4–28 ngày và bỏ sót 30–50% ca bệnh.
Khoảng trễ đó khiến câu hỏi nghiên cứu trở nên rất thực tế: liệu có thể phát hiện một dấu ấn đặc hiệu của nấm trong mẫu bệnh phẩm bằng thao tác đơn giản, cho kết quả ngay tại điểm chăm sóc, thay vì chờ phòng xét nghiệm trung tâm?
Que thử dòng chảy bên Mp1p được thiết kế để nhận diện protein đặc hiệu của T. marneffei. Mẫu được đưa lên dải thử, kết quả đọc bằng mắt qua vạch tín hiệu. Nghiên cứu đánh giá cả huyết tương và nước tiểu; mẫu nước tiểu cho hiệu năng tốt hơn.
![]() |
| Khuẩn lạc Talaromyces marneffei được nuôi trên đĩa Petri. Nguồn: CDC/James D. Gathany. |
Dữ liệu Việt Nam không chỉ là “địa điểm thử nghiệm”
Nghiên cứu năm 2026 sử dụng các cặp mẫu huyết tương và nước tiểu của 239 người được xác định mắc talaromycosis bằng nuôi cấy và 160 người đối chứng không mắc bệnh. Tất cả thuộc các nhóm người trưởng thành nhập viện vì HIV tiến triển tại năm trung tâm ở Việt Nam.
Khi đọc bằng mắt trên mẫu nước tiểu, que thử đạt độ nhạy 95,4%; độ đặc hiệu được báo cáo trên 95%. Trong cùng bộ mẫu, độ nhạy của xét nghiệm miễn dịch enzyme Mp1p là 97,1%, còn nuôi cấy máu là 77,8%. Những con số này cho thấy tiềm năng chẩn đoán, chứ chưa phải bằng chứng rằng que thử đã sẵn sàng thay thế mọi phương pháp hiện có.
Năm 2025, một nghiên cứu bệnh-chứng đa trung tâm với 205 ca bệnh và 405 người đối chứng đã mô tả mối liên quan giữa bệnh với nơi sống, đi lại và phơi nhiễm nghề nghiệp tại Việt Nam.
Trong phân tích đã hiệu chỉnh, phơi nhiễm nghề nghiệp với thực vật nhiệt đới có tỷ số chênh 1,73; tiếp xúc với vật nuôi nông trại là 2,07. Ở nhóm sống tại vùng thấp, người từng cư trú hoặc đi đến vùng cao có tỷ số chênh 3,15. Đây là các mối liên quan thống kê, không phải quan hệ nhân quả trực tiếp.
Việc kết nối dữ liệu dịch tễ, mẫu bệnh phẩm và năng lực xét nghiệm cho thấy vai trò của những mạng lưới nghiên cứu bệnh truyền nhiễm quốc tế đặt tại Việt Nam: họ không chỉ tuyển người tham gia mà còn góp phần xác lập câu hỏi, chuẩn hóa dữ liệu và kiểm chứng công cụ trong bối cảnh bệnh thực sự lưu hành.
Ba vai trò nữ trong một công trình nhiều bên
ThS Nguyễn Thị Mai Thu là đồng tác giả thứ nhất, đóng góp ngang bằng với Lottie Brown. Bà tham gia công việc phòng thí nghiệm, phân tích, diễn giải dữ liệu và soạn bản thảo. Hồ sơ chuyên môn cho thấy bà theo đuổi xét nghiệm Mp1p ít nhất từ luận văn thạc sĩ Vi sinh học giai đoạn 2013–2017.
PGS.TS.BS Lê Thùy tham gia xây dựng ý tưởng, thiết kế nghiên cứu, huy động kinh phí, tuyển bệnh nhân, cung cấp nguồn mẫu và chuyên môn lâm sàng; bà còn phân tích, diễn giải dữ liệu và là tác giả liên hệ. PGS.TS Ngô Thị Hoa tham gia diễn giải dữ liệu và phản biện nội dung học thuật của bản thảo.
![]() |
| Ảnh hiển vi cho thấy chuỗi bào tử hình giọt nước của Talaromyces marneffei. Nguồn: CDC/Dr. Libero Ajello. |
Nhóm IMMY phối hợp Đại học Hong Kong dẫn dắt phát triển que thử và hai kháng thể đơn dòng; Duke cung cấp chuyên môn kỹ thuật, lâm sàng cho thiết kế và triển khai. Vì vậy, nói ba nhà khoa học nữ Việt Nam “phát minh que thử” sẽ sai vai trò. Đóng góp của họ nằm ở phần lâm sàng, phòng thí nghiệm và phân tích kiểm chứng công cụ trên dữ liệu bệnh nhân Việt Nam.
Cách đọc đó cũng cho thấy lao động trí thức trong y sinh không nằm gọn trong một khoảnh khắc phát minh: người đặt câu hỏi, xây dựng công cụ, thu thập mẫu, chạy xét nghiệm và phân tích đều tạo nên độ tin cậy.
Mười lăm phút chưa phải điểm kết thúc
Que Mp1p có ưu thế thực dụng: kết quả trong khoảng 15 phút, đọc bằng mắt và về nguyên tắc không cần hạ tầng phòng xét nghiệm. Mẫu nước tiểu còn dễ lấy hơn máu. Với nơi nguồn lực hạn chế, đây là hướng phát triển đáng chú ý.
Tuy nhiên, công trình là nghiên cứu hồi cứu dạng bệnh-chứng lồng ghép, dùng mẫu lưu trữ thu từ năm 2012 đến 2018. Đối tượng đánh giá chỉ gồm người trưởng thành mắc HIV tiến triển tại Việt Nam. Nhóm tác giả thừa nhận cần nghiên cứu tiếp về độ lặp lại, tính khả thi tại điểm chăm sóc và hiệu năng trên các nhóm suy giảm miễn dịch khác.
Công bố nêu PGS.TS.BS Lê Thùy nhận một khoản tài trợ nghiên cứu do nhà nghiên cứu đề xuất từ Gilead Sciences. Nhân sự IMMY tham gia phát triển que thử, thiết kế nghiên cứu và rà soát kỹ thuật bản thảo, nhưng không trực tiếp làm xét nghiệm hay phân tích kết quả. Đây là thông tin cần tính đến khi có nghiên cứu độc lập tiếp theo.
Phụ Nữ Mới từng phân tích rằng nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công. Với que thử Mp1p, khoảng cách còn lại bao gồm đánh giá tiền cứu trong điều kiện sử dụng thật, quy trình phê duyệt, sản xuất ổn định, chi phí và khả năng đưa vào hệ thống chăm sóc.
Đóng góp trí thức của ba nhà khoa học vì thế nên được nhìn ở một đường dài: từ hiểu nơi nguy cơ tập trung, tạo và gìn giữ dữ liệu lâm sàng, đến kiểm chứng một công cụ có thể rút ngắn thời gian chẩn đoán. Chính sự liền mạch ấy mới làm cho “15 phút” có ý nghĩa khoa học, thay vì chỉ là một con số gây chú ý.





















Hội nghị khoa học ANRS MIE 2026 tại Việt Nam: Kết nối nghiên cứu quốc tế về bệnh truyền nhiễm
Nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công
TS. Trần Diệu Linh và vật liệu giải phóng khí cho tái tạo mô
GS.TS Trần Lê Bảo Hà nghiên cứu ống ghép mạch máu đường kính nhỏ
Cùng chuyên mục
NCS Nguyễn Thị Như Quỳnh dùng máy học phân loại điện não Parkinson
Dùng dữ liệu mưa dự báo sớm nguy cơ thiếu nước ở Tây Nguyên
Biến dạng 0,5% làm độ dẫn Hall trong cobalt tăng đến 24%
Ba nữ nghiên cứu Việt góp sức kiểm chứng que thử nấm 15 phút
Màng chứa chiết xuất hạt nhãn thử bảo quản quả trong 8 ngày
393 người Hà Nội cho thấy khoảng trống trong nhận thức giao thông