![]() |
| GS.TS Trần Lê Bảo Hà, Trưởng bộ môn Sinh lý học và Công nghệ sinh học động vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. Ảnh: Nhà trường. |
Trên màn hình buổi nghiệm thu là những mẫu ống chỉ rộng khoảng 3–5 mm. Kích thước nhỏ, nhưng để một cấu trúc như vậy có thể dẫn máu mà không nhanh chóng biến dạng, gây đông máu hoặc bị cơ thể đào thải, nhóm nghiên cứu phải giải đồng thời nhiều bài toán về vật liệu, tế bào và dòng chảy.
Đó là đối tượng của đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu tạo ống ghép mạch máu đường kính nhỏ bằng hệ thống phản ứng sinh học nhằm ứng dụng trong ghép mạch máu”, mã số ĐTĐL.CN-49/22, do GS.TS Trần Lê Bảo Hà làm chủ nhiệm. Bà hiện là Trưởng bộ môn Sinh lý học và Công nghệ sinh học động vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM.
Hướng ống ghép mạch máu không trùng với nghiên cứu phục hồi nội mạc tử cung của GS.TS Trần Lê Bảo Hà. Điểm chung giữa hai công trình nằm ở kỹ nghệ mô và vật liệu y sinh; còn câu hỏi khoa học, vật liệu, quy trình và đích ứng dụng hoàn toàn khác nhau.
Giữ lại khung mạch, loại bỏ thành phần dễ gây phản ứng
Nhóm nghiên cứu lựa chọn động mạch cảnh lợn và động mạch dây rốn người làm hai nguồn vật liệu tiềm năng. Thay vì tạo toàn bộ ống ghép từ vật liệu tổng hợp, cách tiếp cận này tìm cách loại tế bào khỏi mạch máu ban đầu nhưng giữ lại khung ngoại bào có cấu trúc gần với mô tự nhiên.
Công đoạn ấy được gọi là tẩy tế bào. Nếu xử lý không đủ, vật liệu còn sót thành phần tế bào có thể làm tăng nguy cơ phản ứng miễn dịch. Nếu dùng hóa chất quá mạnh hoặc trong thời gian quá dài, collagen, elastin và cơ tính của mạch lại có thể bị tổn hại. Bài toán vì thế không phải đơn giản là làm sạch, mà là lấy đi tế bào trong khi vẫn bảo toàn phần khung cần thiết.
Một công bố năm 2026 về động mạch dây rốn người mô tả quy trình đưa dung dịch qua lòng mạch bằng hệ phản ứng sinh học. Phương án sử dụng Triton X-100 trong sáu giờ, tiếp theo là SDS nồng độ 0,5% trong 18 giờ, đưa lượng DNA còn lại xuống dưới 50 ng trên mỗi mg khối lượng khô và vẫn bảo toàn cấu trúc collagen. Các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm chưa ghi nhận độc tính trên dòng tế bào L929; tế bào nội mô HUVEC có thể bám và tăng sinh trên mẫu vật liệu. Đây mới là kết quả in vitro, chưa phản ánh đầy đủ cách ống ghép sẽ hoạt động lâu dài trong cơ thể. Bài báo trên Bio-Medical Materials and Engineering.
Công bố này cũng cho thấy rõ tính tập thể của nghiên cứu. ThS. Nguyễn Thuần Nho và Cử nhân Phạm Ngọc Hoàng Tùng được ghi nhận đồng tác giả đầu; GS.TS Trần Lê Bảo Hà đứng cuối danh sách và là tác giả liên hệ. Phần đóng góp tác giả xác định cả nhóm tham gia xây dựng ý tưởng, trong khi thiết kế thí nghiệm, thu nhận và phân tích dữ liệu do ba tác giả đầu đảm nhiệm; bà Hà cùng hai cộng sự tham gia phản biện và chỉnh sửa nội dung chuyên môn. Vì vậy, vai trò chủ nhiệm và định hướng của bà cần được ghi nhận, nhưng không nên biến toàn bộ thao tác thực nghiệm thành thành tích cá nhân.
![]() |
| GS.TS Trần Lê Bảo Hà trình bày kết quả đề tài nghiên cứu ống ghép mạch máu đường kính nhỏ trước hội đồng nghiệm thu. Ảnh: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. |
Một ống ghép phải vừa bền, vừa “hòa” với máu
Sau khi loại tế bào, khung mạch chưa thể mặc nhiên trở thành vật liệu ghép. Nó còn phải chịu được áp lực, giữ được hình dạng, có độ bền đường khâu và hạn chế hình thành huyết khối. Với ống có đường kính nhỏ, cục máu đông chỉ cần xuất hiện ở mức độ nhất định cũng có thể gây tắc dòng chảy.
Nhóm đề tài sử dụng các phương pháp gia cường cơ học và xử lý bề mặt bằng heparin. Heparin được quan tâm vì đặc tính chống đông, nhưng thách thức nằm ở việc đưa chất này lên bề mặt ống ghép đủ đồng đều, ổn định và vẫn tạo điều kiện cho tế bào nội mô bám vào.
Trong một công bố trên Tissue Engineering and Regenerative Medicine, các nhà nghiên cứu dùng kỹ thuật phủ từng lớp kết hợp chuyển động quay chậm để cố định heparin lên khung mạch vô bào. Thử nghiệm với 1, 4, 7, 10 và 13 chu kỳ phủ nhằm lựa chọn lượng heparin phù hợp. Mẫu xử lý giảm hình thành huyết khối, có mức tan máu thấp và hỗ trợ tế bào nội mô bám trên bề mặt trong điều kiện thí nghiệm. GS.TS Trần Lê Bảo Hà đứng cuối danh sách bảy tác giả của công trình; ThS. Lâm Minh Hoàng là tác giả đầu. Công bố của Springer Nature.
Một nhánh thử nghiệm khác tái tạo điều kiện dòng chảy bằng bioreactor. Bài báo do ThS. Lâm Minh Hoàng đứng tên đầu, còn GS.TS Trần Lê Bảo Hà là tác giả thứ sáu trong bảy tác giả, ghi nhận tế bào nội mô vẫn bám trên ống ghép sau 72 giờ nuôi cấy dòng chảy. Kết quả giúp kiểm tra vật liệu trong môi trường gần với hoạt động của mạch hơn nuôi cấy tĩnh, nhưng vẫn chỉ là phép thử in vitro. Bài báo trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
![]() |
| GS.TS Trần Lê Bảo Hà, thứ ba từ trái sang, cùng các thành viên tại buổi nghiệm thu cấp cơ sở đề tài ống ghép mạch máu đường kính nhỏ. Ảnh: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. |
Ở cùng lĩnh vực y học tái tạo, TS Trần Diệu Linh nghiên cứu vật liệu giải phóng khí sinh học để hỗ trợ phục hồi mô. Nếu nhóm của TS Trần Diệu Linh tập trung điều khiển tín hiệu sinh học bằng hydrogel, đề tài của GS.TS Trần Lê Bảo Hà xử lý một cấu trúc phải đồng thời đáp ứng yêu cầu về cơ tính, tương tác tế bào và khả năng dẫn máu.
Ba tháng chưa phải đích đến
Tại buổi nghiệm thu cấp cơ sở ngày 31/10/2025, nhóm nghiên cứu báo cáo đã xây dựng bảng tiêu chuẩn đánh giá ống ghép gồm 18 tiêu chí. Kết quả trên mô hình động vật cho thấy ống ghép duy trì dòng chảy và không hình thành huyết khối sau ba tháng. Hội đồng nhận định đề tài hoàn thành các nội dung và sản phẩm đã đăng ký, đồng thời đề nghị hoàn thiện hồ sơ để tiếp tục đánh giá ở cấp cao hơn. Thông tin của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM.
Bản tin nghiệm thu chưa công bố loài động vật, số lượng mẫu, nhóm đối chứng, tỷ lệ ống duy trì thông suốt hoặc dữ liệu mô học sau khi cấy. Khi chưa có các thông số này, kết quả ba tháng chỉ nên được nhìn nhận là tín hiệu tiền lâm sàng, chưa đủ để đánh giá toàn diện độ an toàn và hiệu quả.
Cổng thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ cũng xác định đề tài đi qua ba lớp thử nghiệm gồm in vitro, tế bào và động vật. Nguồn này dùng từ “tiềm năng” khi nói về khả năng ứng dụng, không cung cấp căn cứ để xem ống ghép là thiết bị đã sẵn sàng sử dụng trên người. Thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Từ một mẫu tiền lâm sàng tới vật liệu ghép dùng trong bệnh viện còn là quãng đường dài: phải chuẩn hóa nguồn mô, kiểm soát từng lô sản xuất, chứng minh độ bền dài hạn, đánh giá đáp ứng miễn dịch, nhiễm trùng, nguy cơ vôi hóa và hình thành huyết khối trên mô hình phù hợp trước khi có thể đề nghị nghiên cứu lâm sàng.
Đó cũng là khoảng cách thường gặp giữa một kết quả khoa học và sản phẩm có thể sử dụng, vấn đề đã được phân tích trong bài nghiên cứu thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công.
Giá trị hiện tại của đề tài không nằm ở một lời hứa rằng ống ghép sắp được đưa vào bệnh viện. Phần đáng ghi nhận hơn là nhóm do GS.TS Trần Lê Bảo Hà chủ nhiệm đã xây dựng được một chuỗi nghiên cứu trong nước, nối từ lựa chọn nguồn mạch, tẩy tế bào, gia cường, xử lý chống đông đến nuôi cấy dòng chảy và thử nghiệm trên động vật.
Con số 3–5 mm trên màn hình nghiệm thu vì thế là điểm bắt đầu của một bài toán lớn hơn. Muốn ống ghép nhỏ ấy tiến gần tới người bệnh, từng ngưỡng về độ sạch, độ bền, tương thích máu, khả năng tái tạo tế bào và an toàn dài hạn đều phải được vượt qua bằng dữ liệu.




















GS.TS Trần Lê Bảo Hà theo đuổi hướng phục hồi nội mạc tử cung
TS. Trần Diệu Linh và vật liệu giải phóng khí cho tái tạo mô
PGS.TS Vũ Bích Ngọc: Người mở những cánh cửa mới của y học tái tạo
Nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công
Cùng chuyên mục
GS.TS Trần Lê Bảo Hà nghiên cứu ống ghép mạch máu đường kính nhỏ
GS.TS Trần Lê Bảo Hà theo đuổi hướng phục hồi nội mạc tử cung
PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh tìm cách đưa AI vào dược lâm sàng
GS.TS. Lê Toàn Thủy: Người đưa "mắt thần" radar từ không gian về với những cánh đồng lúa Việt Nam
Annie Jump Cannon: Nhà thiên văn học xây dựng chuẩn phân loại sao hiện đại
Nữ nhà khoa học góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở Việt Nam