![]() |
| NCS. Mai Thị Thùy Dương trình bày luận án tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng ngày 12/9/2026. |
Nguồn nước cho một thành phố không chỉ được tính bằng lượng nước còn lại trên sông. Để nước đến được vòi của từng hộ gia đình, hệ thống còn phải khai thác nước thô, truyền tải, xử lý và sử dụng điện, hóa chất trong quá trình sản xuất nước sạch. Trong điều kiện nguồn nước biến động, xâm nhập mặn và nhu cầu sử dụng thay đổi, mỗi lựa chọn cấp nước có thể đồng thời giải quyết một vấn đề nhưng lại làm phát sinh thêm những tác động khác.
Đó là bài toán NCS. Mai Thị Thùy Dương, ngành Kỹ thuật môi trường, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng, theo đuổi trong luận án về quản lý bền vững hệ thống cấp nước thành phố Đà Nẵng. Ngày 12/9/2026, chị bảo vệ thành công luận án cấp trường dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Võ Ngọc Dương và GS.TS. Trần Thị Việt Nga.
Không chỉ nhìn vào lượng nước còn lại
Một trong hai trục của nghiên cứu là chỉ số căng thẳng nguồn nước, thường được dùng để phản ánh mối quan hệ giữa lượng nước bị khai thác và khả năng đáp ứng của nguồn nước. Khi nhu cầu khai thác tiến gần hoặc vượt khả năng đáp ứng trong một khoảng thời gian nhất định, sức ép lên nguồn nước tăng lên.
Với Đà Nẵng, vấn đề này gắn chặt với lưu vực Vu Gia - Thu Bồn và những biến động theo mùa. Trong các nghiên cứu trước đó, NCS. Mai Thị Thùy Dương cùng cộng sự đã khảo sát tình trạng khan hiếm nước ở lưu vực này và xem xét những kịch bản có tính đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Chuỗi nghiên cứu ấy không bắt đầu từ luận án. Chị từng chủ nhiệm đề tài xác định chỉ số căng thẳng nguồn nước phục vụ cấp nước bền vững cho lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, sau đó tiếp tục tham gia các nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững của việc khai thác nước ngọt trong khu vực.
Một công bố quốc tế năm 2023 của nhóm nghiên cứu mô phỏng tình trạng khai thác nước ở hạ lưu Vu Gia trong các kịch bản tương lai. Kết quả cho thấy mức độ căng thẳng nguồn nước không cố định trong năm mà thay đổi mạnh theo mùa và có thể gia tăng khi điều kiện khí hậu bất lợi kéo dài.
Điểm đáng chú ý là luận án mới không dừng ở câu hỏi có bao nhiêu nước để khai thác. NCS. Mai Thị Thùy Dương đưa thêm phương pháp đánh giá vòng đời vào cùng một mô hình nhằm xem xét những tác động môi trường phát sinh trong quá trình biến nước thô thành nước sạch.
Một mét khối nước sạch cũng có dấu chân môi trường
![]() |
| NCS. Mai Thị Thùy Dương trình bày kết quả đánh giá hiện trạng khai thác và xử lý nước sạch tại Đà Nẵng. |
Đánh giá vòng đời cho phép nhìn vào các đầu vào và tác động phát sinh trong cả một chuỗi hoạt động. Với hệ thống cấp nước, đó có thể là điện dùng cho bơm và xử lý, hóa chất, quá trình truyền tải nước hay những phát thải liên quan đến sản xuất nước sạch.
Năm 2024, NCS. Mai Thị Thùy Dương cùng PGS.TS. Võ Ngọc Dương và GS.TS. Trần Thị Việt Nga công bố một nghiên cứu về Nhà máy nước Cầu Đỏ. Nhóm sử dụng phương pháp đánh giá vòng đời để phân tích các tác động môi trường trong quá trình xử lý nước.
Kết quả cho thấy điện và hóa chất sử dụng trong sản xuất nước là những nguồn đóng góp đáng kể vào nhiều nhóm tác động môi trường. Điều đó đặt ra một lựa chọn không đơn giản. Một phương án giúp giảm sức ép khai thác từ một nguồn nước chưa chắc đồng thời giảm lượng điện, hóa chất hay tác động môi trường của toàn bộ hệ thống.
Từ hai cách tiếp cận này, luận án xây dựng mô hình tích hợp giữa chỉ số căng thẳng nguồn nước và đánh giá vòng đời. Thay vì đánh giá riêng từng khía cạnh, mô hình cho phép đặt chúng cạnh nhau để so sánh các phương án cấp nước.
Đối tượng được xem xét bao gồm khai thác nước thô, truyền tải, xử lý và sản xuất nước sạch. Các kịch bản được xây dựng đến năm 2045, có xét đến biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Mục tiêu là nhận diện những phương án có thể vừa hạn chế sức ép lên nguồn nước vừa giảm các gánh nặng môi trường của hệ thống.
Ở đây, khái niệm “tối ưu” không nên hiểu là nghiên cứu đã quyết định thay cho cơ quan quản lý Đà Nẵng một phương án cấp nước cụ thể. Mô hình cung cấp thêm một công cụ định lượng để so sánh các lựa chọn dưới cùng một bộ tiêu chí. Quy hoạch và vận hành thực tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố kỹ thuật, tài chính, hạ tầng và chính sách khác.
![]() |
| Toàn cảnh buổi bảo vệ luận án của NCS. Mai Thị Thùy Dương tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. |
Từ Vu Gia - Thu Bồn đến hệ thống cấp nước thành phố
Dấu vết các công trình của NCS. Mai Thị Thùy Dương cho thấy luận án được hình thành từ nhiều bước nghiên cứu liên tiếp. Từ bài toán xác định chỉ số khan hiếm nước, chị chuyển sang đánh giá khai thác nước ở lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, rồi nghiên cứu tác động môi trường của quá trình xử lý tại Nhà máy nước Cầu Đỏ trước khi tích hợp hai hướng tiếp cận.
Theo danh mục công trình được công bố tại buổi bảo vệ luận án, NCS. Mai Thị Thùy Dương có tám kết quả khoa học liên quan đến luận án đã được công bố hoặc báo cáo, trong đó có ba công bố quốc tế, ba bài báo trong nước và hai báo cáo tại hội nghị khoa học. Một bản thảo quốc tế khác đang trong quá trình phản biện.
Con số này chỉ phản ánh một phần của quá trình. Quan trọng hơn là các nghiên cứu nối với nhau thành một câu hỏi lớn hơn về cách đánh giá hệ thống cấp nước khi nguồn nước không còn được xem như một đầu vào ổn định.
Đà Nẵng vừa phải đáp ứng nhu cầu nước cho đô thị, vừa chịu tác động của biến động dòng chảy và xâm nhập mặn ở vùng hạ lưu. Trong bối cảnh ấy, bài toán không còn chỉ là tìm thêm một nguồn nước, mà còn phải tính xem khai thác ở đâu, vào thời điểm nào và việc xử lý nguồn nước ấy tạo thêm bao nhiêu tác động môi trường.
Luận án của NCS. Mai Thị Thùy Dương đặt những câu hỏi đó vào cùng một mô hình. Kết quả chưa phải một phương án quy hoạch bắt buộc cho thành phố, nhưng cung cấp thêm cách lượng hóa những đánh đổi mà người làm quản lý nguồn nước phải đối diện khi lựa chọn kịch bản cho những thập niên tới.




















Nữ sinh ĐH Thủy lợi đạt giải nhất nghiên cứu khoa học
Biến đổi khí hậu và những vấn đề liên quan đến an ninh phi truyền thống
Tác động của biến đổi khí hậu tập trung vào Ngày Nước Thế giới 2024
Cùng chuyên mục
Từ Vu Gia - Thu Bồn đến bài toán nước sạch cho Đà Nẵng
Vật liệu nickel trong phép thử của TS. Vũ Thị Duyên
Những dấu vết cổ nối Tây Nguyên với vùng duyên hải
TS. Nguyễn Thị Trúc Mai chọn giống sắn chống chịu bệnh hại
Theo dấu rủi ro khí hậu trên vùng cà phê Tây Nguyên
Giải mã “chiếc đồng hồ” sinh lý của hạt lúa để rút ngắn thời gian trưởng thành