![]() |
| Phóng viên Phan Thu Giang của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nhận Chứng nhận Nhà báo trẻ tiêu biểu năm 2025. Ảnh: VGP/Hải Minh. |
Làm nghề tốt và đi xa hơn trong nghề không hoàn toàn là một câu chuyện. Một phóng viên có thể được nhìn thấy qua tác phẩm, khả năng phát hiện đề tài, xử lý nguồn tin hay chất lượng công việc. Nhưng cơ hội được đào tạo, có người hướng dẫn, bước vào những vị trí nhiều trách nhiệm hơn hoặc tham gia sâu hơn vào quá trình ra quyết định lại phụ thuộc vào nhiều điều kiện khó quan sát hơn.
Một nghiên cứu công bố trên Journalism Practice tháng 7/2026 đặt chính câu hỏi này với nữ nhà báo Việt Nam. Nhóm Phùng Phương Nga và cộng sự sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc với 19 nữ nhà báo, sau đó phân tích những yếu tố tác động đến quá trình phát triển nghề nghiệp ở ba tầng gồm xã hội, tổ chức và cá nhân.
Cỡ mẫu này đòi hỏi cách đọc thận trọng. Nghiên cứu định tính có thể giúp nhận diện trải nghiệm và cơ chế đáng chú ý, nhưng không cho biết bao nhiêu phần trăm nữ nhà báo Việt Nam gặp từng rào cản. Nghiên cứu cũng không phỏng vấn một nhóm nam nhà báo tương ứng, vì vậy không có căn cứ để nói từ dữ liệu này rằng phụ nữ thăng tiến chậm hơn nam giới bao nhiêu, hay nam và nữ khác nhau thế nào ở từng loại cơ quan báo chí.
Giá trị của nghiên cứu nằm ở một chỗ khác. Nó chỉ ra những điểm trên con đường nghề nghiệp cần được đặt câu hỏi bằng dữ liệu thay vì mặc định rằng nếu cùng bước vào một tòa soạn thì cơ hội phát triển cũng tự nhiên giống nhau.
Cơ hội nghề nghiệp được tạo ra ở nhiều tầng
Ở tầng xã hội, nhóm nghiên cứu xác định các chuẩn mực mang tính gia trưởng, mạng lưới nghề nghiệp do nam giới chi phối và tính bấp bênh của ngành là những yếu tố có liên quan đến trải nghiệm nghề nghiệp của những phụ nữ được phỏng vấn. Ở tầng tổ chức, nghiên cứu nhắc tới văn hóa tòa soạn mang dấu ấn giới, thiếu cố vấn nghề nghiệp và những thực hành thăng tiến chưa đủ minh bạch. Ở tầng cá nhân, trách nhiệm đồng thời giữa công việc và gia đình, yếu tố liên quan đến sự tự tin và tính hai mặt của đam mê nghề nghiệp cũng xuất hiện trong phân tích.
Ba tầng này cần được đọc cùng nhau. Nếu tách riêng một yếu tố như sự tự tin rồi kết luận nữ nhà báo phải “mạnh dạn hơn” để thăng tiến, phần quan trọng của nghiên cứu sẽ bị mất. Chính nhóm tác giả đặt yếu tố cá nhân bên cạnh môi trường nghề nghiệp và cấu trúc xã hội, chứ không coi phát triển sự nghiệp chỉ là kết quả của ý chí từng người.
Một cuộc thảo luận tại Diễn đàn Báo chí toàn quốc năm 2025 cũng từng đặt ra những câu hỏi tương tự từ thực tiễn nghề. Các đại biểu nói đến trách nhiệm kép, định kiến trong đánh giá, cơ hội tiếp cận kỹ năng quản trị và vai trò của người cố vấn. Những ý kiến đó không phải một cuộc khảo sát đại diện cho báo chí Việt Nam, nhưng cho thấy câu chuyện mà nghiên cứu năm 2026 phát hiện không hoàn toàn xa lạ với chính những người đang làm nghề.
Điểm cần tránh là từ đó quy mọi quyết định nghề nghiệp của phụ nữ cho giới. Một nhà báo không nhận vị trí quản lý có thể vì nhiều lý do về chuyên môn, lựa chọn cá nhân, hoàn cảnh hoặc định hướng nghề nghiệp. Thấy ít phụ nữ ở một tầng chức danh cũng chưa đủ để tự động kết luận đã xảy ra phân biệt đối xử. Muốn nói tới bất bình đẳng cần tiếp tục xem tiêu chí tuyển chọn là gì, ai được tiếp cận cơ hội chuẩn bị cho vị trí đó và cùng một tiêu chí có được áp dụng nhất quán hay không.
![]() |
| Phóng viên tác nghiệp tại Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2025 ở Hà Nội. Cơ hội phát triển nghề nghiệp không chỉ thể hiện ở số người bước vào nghề mà còn ở khả năng tiếp cận các nguồn lực trong quá trình làm nghề. Ảnh: VGP/Nhật Bắc. |
Đừng biến rào cản thành khuyết điểm của phụ nữ
Trong những phát hiện của nghiên cứu, “thiếu tự tin” là điểm đặc biệt dễ bị hiểu sai. Nếu chỉ lấy cụm từ này ra khỏi bối cảnh, câu chuyện rất dễ chuyển thành lời khuyên quen thuộc rằng phụ nữ cần tự tin, quyết liệt hoặc tham vọng hơn.
Nhưng nghiên cứu đồng thời nhận diện những yếu tố ở cấp tổ chức như cố vấn nghề nghiệp và cách thức thăng tiến, cùng những yếu tố ở cấp xã hội như chuẩn mực giới và mạng lưới nghề nghiệp. Vì vậy, từ dữ liệu hiện có không thể biết sự thiếu tự tin mà một số người tham gia mô tả bắt nguồn từ tính cách, kinh nghiệm nghề nghiệp, môi trường làm việc hay sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Trách nhiệm giữa công việc và gia đình cũng cần được xử lý tương tự. Việc nghiên cứu ghi nhận “gánh nặng kép” không phải bằng chứng rằng nữ nhà báo kém phù hợp với những nhiệm vụ đòi hỏi thời gian hay vị trí quản lý. Càng không nên biến gia đình thành lời giải thích mặc định mỗi khi một phụ nữ không bước lên nấc nghề nghiệp tiếp theo.
Vấn đề đáng hỏi hơn là những yêu cầu thực sự của một vị trí đã được xác định rõ đến đâu. Nếu một chức danh cần khả năng điều hành, ra quyết định, tổ chức nhân sự hay xử lý khủng hoảng, những năng lực ấy có thể được mô tả và đánh giá bằng bằng chứng. Khi tiêu chí càng mơ hồ, các nhận xét như “có tố chất”, “đủ bản lĩnh”, “phù hợp làm quản lý” càng khó được kiểm tra xem đang dựa trên kết quả công việc hay trên hình dung quen thuộc về một người lãnh đạo.
Phụ Nữ Mới gần đây đã phân tích một nghiên cứu khác cho thấy đánh giá “tiềm năng” trong doanh nghiệp có thể tạo ra khoảng cách giới ngay cả khi thành tích hiện tại của phụ nữ tốt. Kết quả đó không thể được mang sang để khẳng định tòa soạn Việt Nam cũng vận hành theo cùng cơ chế. Tuy nhiên, nó gợi ra một câu hỏi quản trị có thể áp dụng rộng hơn. Một dự báo về khả năng phát triển chỉ đáng tin khi tiêu chí của nó đủ rõ và có thể kiểm tra lại bằng kết quả thực tế.
Trong báo chí, câu hỏi này còn liên quan tới những cơ hội diễn ra trước khi một quyết định bổ nhiệm được đưa ra. Ai được tham gia đào tạo quản lý, ai có người hướng dẫn, ai được giao những nhiệm vụ giúp mở rộng kinh nghiệm và tiêu chí nào được sử dụng khi cân nhắc bước tiếp theo đều là những dữ liệu cần biết nếu muốn đánh giá cơ hội nghề nghiệp thay vì chỉ nhìn kết quả cuối cùng.
Phụ nữ không chỉ đứng ở phía chịu tác động
Một điểm đáng giữ trong nghiên cứu 2026 là cách nhóm tác giả mô tả nữ nhà báo không chỉ như những người đối diện với rào cản.
Những người tham gia nghiên cứu còn chủ động sử dụng các cam kết và ngôn ngữ chính sách về bình đẳng giới như một nguồn lực khi định vị quyền lợi nghề nghiệp của mình. Nhóm tác giả cũng nhận diện những mạng lưới đoàn kết không chính thức trên môi trường số, nơi phụ nữ có thể tạo ra sự hỗ trợ giữa những người cùng nghề.
Phát hiện này giúp tránh một kiểu kể chuyện khá phổ biến trong các bài về giới, trong đó phụ nữ chỉ xuất hiện ở vị trí bị hạn chế và chờ người khác mở cơ hội. Trong thực tế được nghiên cứu, họ cũng đang tự xây dựng quan hệ hỗ trợ và tìm cách sử dụng những nguồn lực sẵn có để phát triển nghề.
Tuy nhiên, mạng lưới tự thân của phụ nữ không thể thay thế hoàn toàn trách nhiệm của tổ chức. Nếu khả năng được cố vấn, đào tạo hoặc biết rõ con đường phát triển chỉ tùy thuộc vào việc một người có tình cờ tìm được người hỗ trợ hay không, cơ hội vẫn phụ thuộc khá nhiều vào quan hệ cá nhân. Một cơ chế tổ chức rõ ràng có giá trị ở chỗ biến những nguồn lực cần thiết cho nghề nghiệp thành thứ nhiều người có thể tiếp cận hơn.
![]() |
| Các tác giả nhận giải B tại Giải Báo chí toàn quốc về Bình đẳng giới lần thứ II năm 2026. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng. |
Nghiên cứu còn cho biết nhu cầu thay đổi mà những người tham gia mong muốn không giống nhau ở mọi giai đoạn nghề nghiệp. Đây là chi tiết quan trọng. Một nữ phóng viên ở những năm đầu của nghề có thể cần loại hỗ trợ khác một biên tập viên nhiều kinh nghiệm hoặc người đang chuẩn bị đảm nhiệm công việc quản lý. Vì vậy, một chương trình chung dành cho “nữ nhà báo” chưa chắc giải quyết đúng điểm nghẽn của từng giai đoạn.
Muốn biết khoảng cách thực sự nằm ở đâu, số lượng phụ nữ đang làm nghề mới chỉ là điểm bắt đầu. Cần thêm dữ liệu về cơ hội đào tạo, cố vấn, phân công nhiệm vụ, thời gian gắn bó với nghề, tỷ lệ bước từ chuyên môn sang quản lý và những lý do khiến người lao động rời khỏi từng chặng.
Điều này cũng không đồng nghĩa phải đạt một tỷ lệ nữ và nam giống nhau ở mọi chức danh mới được coi là bình đẳng. Điều cần kiểm tra trước là nữ và nam có được đánh giá bằng tiêu chuẩn đủ rõ, có cơ hội chuẩn bị tương đương và có thể tiếp cận những nguồn lực nghề nghiệp cần thiết hay không.
Mười chín cuộc phỏng vấn không thể trả lời câu hỏi đó cho cả nền báo chí Việt Nam. Nhưng nghiên cứu mới đã chỉ ra khá rõ những vị trí cần tiếp tục đo lường.
Với một nghề đặt việc kiểm chứng dữ kiện ở trung tâm, câu chuyện bình đẳng bên trong tòa soạn cũng cần được đưa ra khỏi phạm vi cảm nhận. Có bao nhiêu phụ nữ hay nam giới đang ở từng vị trí là một dữ kiện. Họ đã đi tới đó bằng những cơ hội nào, và con đường ấy có mở như nhau cho người tiếp theo hay không, lại là một câu hỏi khác.
19 cuộc phỏng vấn cho biết đến đâu?
Nghiên cứu của Phùng Phương Nga và cộng sự sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc với 19 nữ nhà báo Việt Nam và phân tích theo chủ đề. Các tác giả xác định những yếu tố ở ba tầng gồm xã hội, tổ chức và cá nhân, đồng thời ghi nhận những cách phụ nữ chủ động tạo nguồn lực hỗ trợ cho quá trình phát triển nghề nghiệp.
Đây là nghiên cứu định tính và không có nhóm nam đối chứng tương ứng. Vì vậy, kết quả giúp nhận diện những trải nghiệm và cơ chế cần nghiên cứu tiếp, nhưng không cho phép tính tỷ lệ của toàn ngành, xác định khoảng cách nữ - nam hoặc quy kết một cơ quan báo chí cụ thể.




















Đánh giá “tiềm năng” có thể nới rộng khoảng cách thăng tiến
Phụ nữ vẫn ít xuất hiện ở vai trò chuyên gia trên báo chí
Vai trò của báo chí trong thúc đẩy bình đẳng giới – tiếp cận từ truyền thông chính sách
Cùng chuyên mục
Nữ nhà báo và những rào cản trên đường phát triển nghề
Có tài khoản chưa nói hết khoảng cách giới trong tài chính
Việc nhà trên mạng xã hội kể gì về vai trò giới
Nữ sinh cân nhắc điều gì khác nam sinh trước khi chọn nghề?
Ai quản lý tiền trong nhà có thật sự là người quyết định?
Phụ nữ có thu nhập cao hơn, vai trò gia đình có thay đổi?