![]() |
| TS. Trương Thị Thu Trang, Trưởng phòng Nghiên cứu, Thông tin Khoa học xã hội, trình bày ý kiến tại buổi sinh hoạt chuyên đề của Viện Thông tin Khoa học xã hội ngày 3/3/2026. Ảnh: Viện Thông tin Khoa học xã hội. |
Một bức tranh được tạo với sự hỗ trợ của AI có phải là tác phẩm được bảo hộ? Nếu AI sử dụng hàng triệu văn bản, hình ảnh có bản quyền để huấn luyện mô hình thì chủ sở hữu tác phẩm có quyền từ chối hay yêu cầu trả phí không? Và nếu hệ thống tạo ra nội dung xâm phạm quyền tác giả, trách nhiệm thuộc về người dùng, nhà cung cấp hay một chủ thể khác?
Những câu hỏi này đang từ tranh luận công nghệ trở thành bài toán pháp lý. Tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, TS. Trương Thị Thu Trang đang chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ giai đoạn 2025–2026 về pháp luật sở hữu trí tuệ đối với công nghệ trí tuệ nhân tạo ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam. Danh mục nhiệm vụ chính thức của Viện cho biết công trình hiện vẫn trong quá trình thực hiện.
Điểm đáng chú ý của hướng nghiên cứu này nằm ở chỗ AI đang làm xáo trộn một số khái niệm vốn khá quen thuộc của pháp luật sở hữu trí tuệ: ai là người sáng tạo, mức đóng góp của con người bao nhiêu thì đủ để được bảo hộ, một tác phẩm đã có bản quyền có thể được đưa vào dữ liệu huấn luyện đến mức nào và người phát triển hệ thống AI phải minh bạch những gì.
Khi luật phải xác định phần sáng tạo của con người
TS. Trương Thị Thu Trang hiện là Trưởng phòng Nghiên cứu, Thông tin Khoa học xã hội thuộc Viện Thông tin Khoa học xã hội. Tháng 5/2026, bà được bổ nhiệm lại chức vụ này theo Quyết định số 196-QĐ/TTXH; cơ cấu tổ chức hiện hành của Viện tiếp tục ghi nhận bà là Trưởng phòng.
Nếu với tác phẩm truyền thống, việc xác định tác giả thường bắt đầu từ một con người hoặc nhóm người, thì AI tạo sinh khiến ranh giới ấy phức tạp hơn. Một người có thể chỉ nhập vài dòng lệnh, nhưng cũng có trường hợp người dùng lựa chọn dữ liệu, sửa nhiều lần, bố cục lại, biên tập và đưa ra hàng loạt quyết định sáng tạo trước khi có sản phẩm cuối cùng.
Hội thảo khoa học do Viện Thông tin Khoa học xã hội tổ chức ngày 17/7/2026, trong khuôn khổ nhiệm vụ do TS Trương Thị Thu Trang làm chủ nhiệm, xác định một trong những vấn đề trọng tâm là điều kiện bảo hộ và chủ thể quyền đối với sản phẩm được hình thành với sự tham gia hoặc hỗ trợ của AI. Nghiên cứu cũng đặt vấn đề về quyền sáng chế trong những sản phẩm có sự tham gia của công nghệ này.
Đây không chỉ là câu hỏi AI “có phải tác giả hay không”. Bài toán khó hơn nằm ở việc xác định phần đóng góp sáng tạo của con người. Nếu tiêu chuẩn quá thấp, pháp luật có nguy cơ trao quyền độc quyền cho những sản phẩm mà yếu tố sáng tạo của con người rất hạn chế. Nếu tiêu chuẩn quá cao, những người thực sự sử dụng AI như một công cụ sáng tạo có thể lại không được bảo vệ thích đáng.
![]() |
| Hội thảo ngày 17/7/2026 thuộc nhiệm vụ cấp Bộ về pháp luật sở hữu trí tuệ đối với AI do TS Trương Thị Thu Trang làm chủ nhiệm. Ảnh: Viện Thông tin Khoa học xã hội |
Dữ liệu huấn luyện trở thành một mặt trận bản quyền mới
Vấn đề thứ hai còn khó hơn sản phẩm đầu ra của AI: dữ liệu đầu vào.
Các mô hình AI cần lượng dữ liệu rất lớn để huấn luyện. Trong số đó có thể tồn tại sách, báo, tranh, ảnh, âm nhạc, phần mềm và nhiều loại tác phẩm đang được bảo hộ quyền tác giả. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là AI tạo ra cái gì, mà còn là AI đã học từ đâu và việc sử dụng dữ liệu ấy có nằm trong giới hạn pháp luật cho phép hay không.
Hội thảo tháng 7/2026 của nhóm nghiên cứu xác định đây là một trong hai nhóm vấn đề pháp lý lớn: điều kiện và giới hạn sử dụng văn bản, dữ liệu được bảo hộ để huấn luyện hệ thống AI; cơ chế minh bạch dữ liệu; khả năng bảo lưu quyền của chủ sở hữu và trách nhiệm pháp lý của nhà cung cấp hệ thống. Nhóm nghiên cứu khảo sát cách tiếp cận tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia.
Đây cũng là điểm khiến câu chuyện sở hữu trí tuệ trong thời AI khác với những tranh chấp sao chép nội dung quen thuộc. Một tác phẩm có thể không bị sao chép nguyên vẹn để phát hành lại, nhưng dữ liệu của nó lại được dùng trong quá trình huấn luyện một mô hình có khả năng tạo ra hàng triệu sản phẩm mới.
Trên Phụ nữ Mới, câu chuyện thách thức trong việc bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số từng được đặt ra khi AI và các nền tảng số làm thay đổi môi trường sáng tạo. Nghiên cứu của TS Trương Thị Thu Trang đi sâu thêm một lớp: không chỉ chống hành vi sao chép sau khi tác phẩm được công bố, mà phải xem xét cả cách tác phẩm được đưa vào quá trình vận hành của hệ thống AI.
Ba câu hỏi pháp lý lớn khi AI gặp quyền tác giả
Nhiệm vụ nghiên cứu do TS Trương Thị Thu Trang chủ nhiệm tập trung vào những vấn đề đang nổi lên ở nhiều hệ thống pháp luật. Thứ nhất, sản phẩm có AI tham gia cần bao nhiêu đóng góp sáng tạo của con người để đủ điều kiện bảo hộ. Thứ hai, tác phẩm có bản quyền được sử dụng để huấn luyện AI trong phạm vi nào và chủ sở hữu có cơ chế bảo lưu, từ chối hay kiểm soát việc khai thác hay không. Thứ ba, khi hệ thống AI tạo ra nội dung xâm phạm quyền, trách nhiệm pháp lý cần được phân bổ giữa người dùng, nhà cung cấp hệ thống và các bên liên quan như thế nào. Đây là những vấn đề nhóm nghiên cứu đang tiếp tục khảo sát, không phải các kết luận pháp lý đã hoàn tất.
Việt Nam đã có luật, nhưng nhiều tiêu chí vẫn phải làm rõ
![]() |
| Trí tuệ nhân tạo đang đặt pháp luật trước những câu hỏi mới về quyền tác giả, dữ liệu huấn luyện và trách nhiệm của các bên liên quan. Ảnh minh họa: KATRIN BOLOVTSOVA/Pexels. |
Bối cảnh pháp lý trong nước đã thay đổi khá nhanh. Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 ngày 10/12/2025; cùng ngày, Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 cũng được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Tháng 4/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 134/2026/NĐ-CP sửa đổi quy định về quyền tác giả, quyền liên quan.
Nhưng theo đánh giá được công bố tại hội thảo của Viện Thông tin Khoa học xã hội, nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới AI hiện vẫn chủ yếu ở mức nguyên tắc. Các tiêu chí như mức đóng góp sáng tạo của con người, cơ chế truy vết dữ liệu huấn luyện, quyền bảo lưu của chủ sở hữu hay trách nhiệm của nhà cung cấp hệ thống vẫn cần được cụ thể hóa thêm.
Chính khoảng cách giữa một nguyên tắc pháp luật và khả năng áp dụng vào từng tình huống thực tế là nơi nghiên cứu chính sách có vai trò. Một quy định có thể nói rằng quyền của tác giả phải được bảo vệ, nhưng khi một mô hình AI đã được huấn luyện bằng hàng tỷ đơn vị dữ liệu, pháp luật còn phải trả lời cách phát hiện tác phẩm đã được dùng, ai có nghĩa vụ công khai và chủ thể quyền có thể thực thi quyền của mình bằng công cụ nào.
Ở chiều ngược lại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng không thể được thiết kế theo cách khiến nghiên cứu, đổi mới và phát triển AI gần như không thể tiến hành. Hội thảo của nhóm nghiên cứu vì thế đặt vấn đề cân bằng giữa quyền của người sáng tạo và yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thay vì coi đây là lựa chọn chỉ có một bên thắng.
Một bài toán chính sách chưa có đáp án đóng
Điều đáng chú ý ở công việc của Trương Thị Thu Trang không nằm ở việc đưa ra ngay một đáp án đơn giản cho câu hỏi “AI có bản quyền hay không”. Cách đặt vấn đề của nhiệm vụ nghiên cứu rộng hơn: xem kinh nghiệm của nhiều quốc gia đang xử lý từng mâu thuẫn như thế nào, rồi xác định bài học nào phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam.
Điều đó cũng giúp phân biệt nghiên cứu chính sách với việc chạy theo một hiện tượng công nghệ mới. AI thay đổi nhanh, nhưng pháp luật không thể chỉ phản ứng theo từng vụ việc riêng lẻ. Các quy định phải đủ rõ để người sáng tạo biết quyền của mình, doanh nghiệp công nghệ biết giới hạn được phép và cơ quan thực thi có cơ sở xử lý tranh chấp.
Câu chuyện này có liên hệ với bài toán rộng hơn về sở hữu trí tuệ giúp nữ trí thức đưa sáng tạo ra thị trường. Nếu sở hữu trí tuệ là công cụ để bảo vệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thì trong kỷ nguyên AI, chính khái niệm “ai tạo ra”, “ai sở hữu” và “AI được phép học từ đâu” lại phải được làm rõ trước.
Nhiệm vụ do TS. Trương Thị Thu Trang chủ nhiệm vẫn đang được triển khai trong năm 2026, vì vậy chưa thể coi những vấn đề được thảo luận tại hội thảo là kết luận cuối cùng hay kiến nghị chính thức đã được nghiệm thu.
Nhưng từ những câu hỏi đang được đặt ra, có thể nhìn thấy một phần công việc của nữ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội: không trực tiếp tạo ra mô hình AI, mà nghiên cứu những nguyên tắc giúp xã hội quyết định AI được phép vận hành đến đâu, quyền của người sáng tạo cần được bảo vệ thế nào và đổi mới công nghệ phải chịu trách nhiệm ra sao.
Nguồn box: Viện Thông tin Khoa học xã hội Link nguồn: Trang hội thảo ngày 17/7/2026 của Viện.




















Thách thức trong việc bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số
Sở hữu trí tuệ giúp nữ trí thức đưa sáng tạo ra thị trường
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi: Tài sản trí tuệ được định giá, mua bán và thế chấp được
AI đang thay đổi cách nữ trí thức làm việc như thế nào?
Cùng chuyên mục
Để tiếng nói nữ trí thức đi từ góp ý đến tác động chính sách
TS. Trương Thị Thu Trang trước bài toán bản quyền của AI
Nữ trí thức nghệ thuật trước thách thức của kỷ nguyên số
TS. Lê Thị Mai Liên: Sau hai “ca làm việc”, ai chăm sóc tinh thần phụ nữ?
Khoa học mở thêm không gian cho nữ trí thức kết nối
Sở hữu trí tuệ giúp nữ trí thức đưa sáng tạo ra thị trường