![]() |
| PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền phát biểu tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Giáo sư. Ảnh: Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM. |
Ở một trang trại trồng mít rộng 2,5 ha kết hợp nuôi dê tại An Giang, câu hỏi của nhóm nghiên cứu không chỉ là xử lý nước thải hay tận dụng phân chăn nuôi. Đệm lót sinh học, ủ compost, than sinh học và ao thủy sinh được đặt trong cùng một mô hình, để những dòng vật chất phát sinh trong quá trình sản xuất có cơ hội được sử dụng tiếp thay vì tách ra thành từng bài toán xử lý riêng.
PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền, Trưởng phòng Quản lý Khoa học và Quan hệ đối ngoại, Viện Môi trường và Tài nguyên thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM, cùng các cộng sự theo đuổi cách tiếp cận này trong một nhiệm vụ cấp quốc gia về phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư nông thôn An Giang. Công trình không xây dựng một mô hình duy nhất, mà thử ba cấu trúc khác nhau cho trồng cây ăn quả, chăn nuôi quy mô công nghiệp và nuôi, chế biến thủy sản nước ngọt.
Ngày 13/4/2026, nhiệm vụ do PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền làm chủ nhiệm được Hội đồng tư vấn nghiệm thu cấp quốc gia thống nhất nghiệm thu. Ba mô hình thí điểm đã được triển khai, đi kèm các báo cáo đánh giá kinh tế, xã hội, môi trường, hồ sơ thiết kế và hướng dẫn vận hành.
Không bắt đầu bằng một công nghệ đơn lẻ
Cách tổ chức nghiên cứu của nhóm khác với việc tìm một thiết bị xử lý rồi đưa đến từng hộ sản xuất. Điểm xuất phát là toàn bộ dòng nguyên liệu và chất thải của một sinh kế. Thứ gì đi vào hệ thống, phần nào trở thành sản phẩm, phần nào còn lại và phần dư ấy có thể chuyển sang công đoạn nào khác đều phải được đặt trong cùng một sơ đồ.
Đây cũng là mạch nghiên cứu PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền đã theo đuổi trong nhiều năm. Công việc của bà nằm ở giao điểm giữa quản lý môi trường, phân tích hệ thống và những mô hình sản xuất hướng tới giảm chất thải. Bà hiện là thành viên nhóm nghiên cứu về kỹ thuật và hệ thống không phát thải trong sản xuất công – nông nghiệp tại Việt Nam.
![]() |
| PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền nhận quyết định bổ nhiệm Phó Giáo sư năm 2024. Ảnh: Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM. |
Với trang trại cây ăn quả, nhóm không gọi một hợp phần riêng lẻ là giải pháp. Mô hình được thiết kế bằng cách kết hợp đệm lót sinh học, ủ compost, sản xuất than sinh học và ao thủy sinh. Trên nền một trang trại mít kết hợp nuôi dê, nhóm đánh giá đồng thời khả năng kiểm soát ô nhiễm, sử dụng lại chất thải và hiệu quả kinh tế của hệ thống.
Các con số trong công bố năm 2025 cần được đọc đúng phạm vi. Nhóm dự báo mô hình có thể giảm khoảng 75% BOD5 và trên 80% amoni trong dòng nước thải, đồng thời giảm khoảng một nửa chi phí phân bón hóa học và nhiên liệu. Thời gian hoàn vốn được ước tính khoảng ba năm, với tỷ suất hoàn vốn nội bộ khoảng 20%. Đây là kết quả dự báo của mô hình đánh giá, không phải bằng chứng rằng mọi trang trại áp dụng cấu trúc tương tự đều đạt đúng các tỷ lệ này.
Ba kiểu sinh kế cần ba cách nối dòng vật chất
Mô hình thứ nhất dành cho hệ thống trồng cây ăn quả hướng tới sản xuất hữu cơ và giảm phát thải. Ở đây, vấn đề chính là nối chất thải chăn nuôi, phụ phẩm cây trồng, nước và vật liệu hữu cơ vào một chu trình có thể tái sử dụng trong trang trại.
Mô hình thứ hai được thiết kế cho các trại chăn nuôi gia súc quy mô công nghiệp. Quy mô lớn tạo ra một bài toán khác hẳn hộ gia đình, bởi lượng chất thải tập trung nhiều hơn, chi phí vận chuyển và xử lý trở thành một biến số đáng kể. Trong quá trình tổng kết đề tài, nhóm còn xây dựng hướng tối ưu hóa chi phí tuần hoàn các dòng chất thải cho dạng trang trại này.
Mô hình thứ ba đi vào sinh kế nuôi và chế biến thủy sản nước ngọt. Một nghiên cứu của nhóm về hộ nuôi và chế biến cá lóc xây dựng hệ thống sinh thái khép kín nhằm quản lý phần chất thải phát sinh đồng thời tận dụng các nguồn lực có sẵn tại hộ. Kết quả công bố xác nhận thiết kế và các thông số kỹ thuật phù hợp với sinh kế được khảo sát, nhưng chưa phải bằng chứng để khẳng định mô hình có thể áp dụng nguyên dạng cho mọi hộ nuôi cá.
![]() |
| Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp quốc gia về phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng nông thôn An Giang, tháng 4/2026. Ảnh: Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM. |
Ba mô hình vì thế có cùng nguyên tắc nhưng không dùng chung một công thức. Trang trại cây ăn quả, trại chăn nuôi công nghiệp và hộ nuôi thủy sản có quy mô, dòng nguyên liệu, lượng chất thải và khả năng đầu tư khác nhau. Phần việc khó không chỉ là tìm ra chất thải có thể biến thành gì, mà còn phải xác định nó được chuyển sang đâu, ở quy mô nào và chi phí của vòng tuần hoàn ấy có phù hợp với sinh kế đang vận hành hay không.
Cách tiếp cận này có điểm giao với kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, nhưng trọng tâm của hai công trình khác nhau. Một hướng đặt câu hỏi ở cấp cộng đồng và mối liên kết giữa nhiều chủ thể; nhóm của PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền tập trung nhiều hơn vào việc thiết kế và thử nghiệm các hệ thống tích hợp cho những kiểu sinh kế cụ thể.
“Không phát thải” không có nghĩa không còn chất thải
Tên gọi “hệ thống không phát thải” dễ tạo cảm giác toàn bộ chất thải đã biến mất. Trong nghiên cứu này, cần hiểu đó là hướng thiết kế nhằm giảm lượng vật chất phải thải bỏ bằng cách tìm đường đưa chúng trở lại hệ thống hoặc sang một quá trình sử dụng khác. Bản thân mô hình vẫn phải xử lý những dòng vật chất không thể tuần hoàn, đồng thời kiểm soát chất lượng môi trường trong quá trình vận hành.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng khi nói đến khả năng nhân rộng. Một cấu trúc hoạt động ở trang trại mít 2,5 ha không thể mặc nhiên được chuyển sang một trang trại khác có quy mô, vật nuôi, nguồn nước và khả năng đầu tư khác. Chi phí ban đầu, khả năng vận hành của người sử dụng, thị trường đầu ra và điều kiện địa phương đều có thể làm thay đổi hiệu quả.
Đề tài vì vậy không chỉ bàn giao ba mô hình. Nhóm còn xây dựng các báo cáo đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, hồ sơ thiết kế, sổ tay hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời tạo ra ba bài báo trong nước, một bài báo quốc tế, ba báo cáo hội nghị, hỗ trợ đào tạo ba thạc sĩ, một nghiên cứu sinh và có một đơn sáng chế được chấp nhận hợp lệ.
Những đầu ra này cho thấy khối lượng công việc của một nhiệm vụ cấp quốc gia, nhưng chưa phải bằng chứng rằng ba mô hình đã trở thành phương án chuẩn cho nông thôn An Giang. Phần đáng theo dõi tiếp theo là khả năng những hệ thống thí điểm có tiếp tục vận hành sau dự án, chi phí thực tế thay đổi ra sao và hộ sản xuất có đủ động lực để duy trì những vòng tuần hoàn đã được thiết kế hay không.
Công việc của PGS.TS. Đỗ Thị Thu Huyền vì thế nằm ở một khoảng giữa nghiên cứu môi trường và tổ chức sản xuất. Chất thải chỉ trở thành đầu vào khi trong hệ thống thực sự có một nơi tiếp nhận nó, còn một vòng tuần hoàn chỉ tồn tại lâu dài khi cả kỹ thuật lẫn chi phí đều phù hợp với người vận hành. Ba mô hình tại An Giang đặt chính hai điều kiện ấy vào cùng một bài toán nghiên cứu.















Đưa phụ phẩm nông nghiệp vào vòng tuần hoàn của cộng đồng
Từ hạt mít đến vật liệu giữ ẩm, hỗ trợ xử lý đất nhiễm kim loại nặng
Từ một loài hoa bản địa đến chuỗi giá trị mới cho phụ nữ nông thôn
Cùng chuyên mục
Ba mô hình sinh kế khép kín được thử nghiệm tại An Giang
Ba lớp kiểm soát trong bài toán phòng chống gian lận
Giúp robot bám đúng quỹ đạo khi cơ cấu truyền động có khoảng trễ
Bài toán nitơ trong nước thải thủy sản của NCS. Phan Thị Kim Thủy
Người bệnh thận mạn tự chăm sóc thế nào ngoài bệnh viện?
12 bộ kit STEM được làm ra cho những giờ Khoa học tự nhiên