Đó cũng là ý tưởng cốt lõi của dự án “Xây dựng mô hình chuỗi giá trị cho các sản phẩm từ hoa hồng cổ Đà Lạt (Rosa chinensis Jacq), gắn với sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn – VACHARO” do Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ và Khởi nghiệp (COSTAS) thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam đề xuất. Dự án dự kiến triển khai tại xã Quang Hưng, tỉnh Hưng Yên, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị từ trồng, chế biến đến kinh doanh, tiêu thụ; qua đó tạo thêm cơ hội tăng thu nhập cho phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương ở nông thôn.
![]() |
| Vườn hoa hồng cổ của gia đình chị Lưu ở Hưng Yên |
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, điểm đáng chú ý của dự án không nằm ở việc đưa thêm một loại cây vào sản xuất, mà ở cách tiếp cận lấy khoa học và công nghệ làm nền tảng để tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị. Người dân không chỉ trồng và bán nguyên liệu, mà được kết nối với các khâu chế biến sâu, phát triển sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn và tiếp cận thị trường. Nếu được triển khai thành công, mô hình có thể tạo ra một hướng đi mới: biến lợi thế của giống hoa bản địa thành giá trị kinh tế, đồng thời trao thêm cơ hội để phụ nữ nông thôn tham gia và làm chủ chuỗi sản xuất – kinh doanh.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Minh Tân |
Trao đổi với Tạp chí Phụ nữ Mới, PGS.TS Nguyễn Minh Tân chia sẻ về lợi thế của hoa hồng cổ Đà Lạt, dư địa thị trường, vai trò của khoa học công nghệ, tác động đối với phụ nữ nông thôn cũng như cơ hội để doanh nghiệp, nhà đầu tư đồng hành cùng dự án.
P.V: Thưa chị, đều gì khiến dự án chuỗi giá trị hoa hồng cổ Đà Lạt có lợi thế khác biệt so với các mô hình dược liệu, cây giá trị cao khác trên thị trường?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Điểm khác biệt lớn nhất của dự án nằm ở việc chúng tôi không làm nông nghiệp đơn thuần mà xây dựng một chuỗi giá trị khép kín, từ giống - canh tác - chế biến sâu - thương mại - xuất khẩu, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ thực chất.
Thứ nhất, về giống cây: hoa hồng cổ Đà Lạt (Rosa chinensis Jacq) là giống bản địa quý, cho hoa quanh năm, thích nghi tốt và đã được chứng minh có thể trồng thành công tại khu vực phía Bắc. Đây là lợi thế mà không phải loại cây dược liệu hay hoa nào cũng có được.
Thứ hai, về mô hình canh tác: dự án không đòi hỏi diện tích lớn hay kỹ thuật, máy móc phức tạp. Chỉ với khoảng một sào đất vườn, người nông dân, kể cả người già, trẻ em, người yếu thế, đều có thể tham gia canh tác tại nhà và có thu nhập đều đặn. Đây là mô hình sinh kế mang tính bao trùm mà rất ít dự án nông nghiệp giá trị cao khác hướng tới.
Thứ ba, về chế biến và thị trường: chúng tôi không dừng lại ở việc bán nguyên liệu thô hay hoa sấy khô như hiện trạng manh mún tại Hưng Yên, mà phát triển hàng loạt sản phẩm chế biến sâu như trà cánh hoa hồng, siro hoa hồng, bánh hoa hồng, xà phòng hoa hồng... theo mô hình đã được chứng minh hiệu quả tại Vân Nam, Trung Quốc.
Thứ tư, và quan trọng nhất, dự án được dẫn dắt bởi đội ngũ khoa học có quy trình, công nghệ chế biến sẵn có, hướng tới các tiêu chuẩn OCOP, ISO, HACCP để đủ điều kiện xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Đây là yếu tố tạo ra "hộ chiếu chất lượng" mà nhà đầu tư có thể tin tưởng, thay vì một mô hình trồng trọt tự phát, thiếu kiểm định như phần lớn các vùng nguyên liệu hoa hồng hiện nay.
![]() |
| Chị Lý, một phụ nữ ở Hưng Yên thu hoạch hoa hồng cổ trong khu vườn của gia đình |
PV: Vì sao thu nhập của nông dân có thể cao gấp 10-20 lần so với trồng lúa, và dư địa thị trường sản phẩm từ hoa hồng còn rộng đến đâu?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Giá trị gia tăng lớn đến từ việc chuyển hóa một sản phẩm nông nghiệp thô, giá trị thấp, thành chuỗi sản phẩm chế biến sâu có giá trị thương mại cao gấp nhiều lần.
Nếu trồng lúa, nông dân chỉ bán được hạt thóc với giá trị rất thấp và bấp bênh theo mùa vụ. Trong khi đó, hoa hồng cổ Đà Lạt cho thu hoạch cánh hoa quanh năm, và mỗi cân cánh hoa tươi, qua chế biến, có thể trở thành nhiều dòng sản phẩm khác nhau: trà thảo mộc, siro, bánh, xà phòng, mỹ phẩm... mỗi sản phẩm lại có một phân khúc khách hàng và mức giá riêng, thường cao hơn gấp nhiều lần giá nguyên liệu thô.
Đây chính là bản chất của "kinh tế chuỗi giá trị": giá trị không nằm ở người trồng cây mà nằm ở phần chế biến, thương hiệu và thị trường. Khi nông dân được kết nối trực tiếp vào chuỗi này, thay vì chỉ bán nguyên liệu thô cho thương lái như hiện nay, phần giá trị gia tăng đó sẽ được chia sẻ ngược lại cho người trồng thông qua giá thu mua ổn định và cao hơn.
![]() |
| Hoa Hồng cổ |
Về dư địa thị trường, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, mang câu chuyện bản địa đang tăng mạnh cả trong nước và quốc tế, đặc biệt ở phân khúc thực phẩm chức năng, mỹ phẩm thiên nhiên và trà thảo mộc cao cấp. Mô hình sản phẩm từ hoa hồng tại Vân Nam, Trung Quốc là một minh chứng cho thấy một ngành hàng có thể phát triển thành cả một hệ sinh thái kinh tế - từ nông nghiệp, chế biến đến du lịch trải nghiệm. Việt Nam, với vùng nguyên liệu hoa hồng cổ Đà Lạt độc đáo và câu chuyện bản địa riêng có, hoàn toàn có dư địa để phát triển tương tự, thậm chí hướng tới xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
PV: Nếu triển khai thành công, theo chị dự án sẽ mang lại những tác động gì đối với người nông dân, đặc biệt là phụ nữ và các hộ sản xuất nhỏ ở nông thôn?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Tác động lớn nhất là tạo ra sinh kế bền vững và ổn định cho nhóm dễ bị tổn thương nhất ở nông thôn: phụ nữ, người cao tuổi và các hộ sản xuất nhỏ lẻ.
Trước hết, về thu nhập: dự án đặt mục tiêu ít nhất 15-20 hộ, trong đó tối thiểu 70% do phụ nữ làm chủ, có thể vận hành trọn vẹn chuỗi giá trị hoa hồng - từ trồng, chế biến đến bán hàng - với thu nhập tăng tối thiểu 20-30% chỉ trong 24 tháng đầu triển khai.
Về năng lực, phụ nữ không chỉ là người hưởng lợi mà được đào tạo trở thành người trực tiếp làm chủ kỹ thuật canh tác, chế biến và cả kỹ năng bán hàng, tiếp thị số - những kỹ năng giúp họ độc lập kinh tế lâu dài, chứ không phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài.
Về tính bao trùm, mô hình canh tác quy mô nhỏ tại vườn nhà đặc biệt phù hợp với người già, người yếu thế, những nhóm thường bị loại khỏi các chương trình phát triển kinh tế nông thôn vì thiếu sức lao động hay khả năng di chuyển. Dự án còn góp phần củng cố năng lực tổ chức của Hội Phụ nữ và Hội Nông dân địa phương trong việc điều phối các mô hình sinh kế dựa trên khoa học công nghệ, tạo nền tảng để nhân rộng mô hình ra các địa phương khác sau khi dự án kết thúc.
PV: Vai trò của khoa học và công nghệ trong dự án được thể hiện ở những khâu nào, thưa chị? Vì sao đây là một mô hình đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp chứ không đơn thuần là trồng hoa?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Khoa học công nghệ chính là "xương sống" xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, chứ không chỉ dừng lại ở khâu trồng trọt.
Ở khâu đầu vào, đội ngũ khoa học xây dựng quy trình trồng đạt tiêu chuẩn OCOP hoặc cao hơn, giúp hình thành một vùng nguyên liệu chuẩn hóa, khắc phục tình trạng canh tác manh mún, tự phát, thiếu kiểm định chất lượng như hiện nay tại một số vùng trồng.
Ở khâu chế biến, các nhà khoa học phát triển những quy trình chế biến sâu để tạo ra nhiều dòng sản phẩm độc đáo, riêng có của vùng trồng, thay vì chỉ bán nguyên liệu thô.
Ở khâu chứng minh giá trị, dự án tiến hành phân tích hoạt tính sinh học và công bố các nghiên cứu khoa học chính thống về chất lượng sản phẩm. Đây là yếu tố then chốt để tạo niềm tin với khách hàng quốc tế và mở đường xuất khẩu, bởi trên thị trường thế giới, một sản phẩm có nghiên cứu khoa học chứng minh chất lượng bao giờ cũng có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với sản phẩm chỉ dựa vào kinh nghiệm dân gian.
Ở khâu sản xuất, dự án xây dựng quy trình đạt các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, HACCP để sản phẩm đủ điều kiện xuất khẩu vào các thị trường khó tính, đồng thời nâng giá trị sản phẩm ngay tại thị trường nội địa và đảm bảo đầu ra tiêu thụ nguyên liệu bền vững cho nông dân.
Chính vì hội tụ đầy đủ các lớp giá trị khoa học này - từ giống, quy trình canh tác, công nghệ chế biến, đến kiểm định chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế - nên đây không đơn thuần là một dự án trồng hoa, mà là một mô hình đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp: lấy khoa học công nghệ làm động lực để chuyển hóa một loại cây bản địa thành một ngành hàng có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Minh Tân chia sẻ về dự án |
PV: Được biết, Dự án đang tìm kiếm nguồn lực đồng hành. Đây là thời điểm như thế nào đối với doanh nghiệp, quỹ đầu tư muốn tham gia từ giai đoạn đầu, và họ có thể cùng tạo ra những giá trị gì?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Đây là thời điểm lý tưởng để tham gia, bởi dự án đã đi qua giai đoạn khảo sát, xác thực nhu cầu và đang ở ngưỡng chuyển từ mô hình thí điểm sang mở rộng quy mô - đúng thời điểm mà một đồng vốn đầu tư sớm có thể tạo ra đòn bẩy giá trị lớn nhất.
Về nền tảng sẵn có, dự án đã có đội ngũ khoa học với quy trình và công nghệ chế biến các sản phẩm từ hoa hồng giống Đà Lạt, đồng thời đã có một số hộ nông dân tại Hưng Yên đang canh tác giống hoa hồng cổ này, dù còn manh mún và thiếu kiểm định chất lượng. Đây chính là "khoảng trống đầu tư" rõ ràng: nguồn nguyên liệu và công nghệ đã có, chỉ cần nguồn lực để chuẩn hóa và mở rộng.
Với các nhà đầu tư, doanh nghiệp và hợp tác xã sẵn sàng triển khai vùng nguyên liệu, đây là cơ hội xây dựng một vùng trồng chuẩn hóa ngay từ đầu, tránh rủi ro phải "sửa sai" một hệ thống canh tác tự phát sau này.
Với các nhà đầu tư quan tâm đến thị trường tiêu thụ, đây là thời điểm để cùng khảo sát, chào hàng ra thị trường quốc tế, thu thập thông tin phát triển các dòng sản phẩm cao cấp, từ đó đồng thiết kế một chiến lược sản phẩm phù hợp nhất với thị hiếu khách hàng mục tiêu, thay vì đầu tư vào một sản phẩm đã định hình sẵn và khó thay đổi.
Giá trị mà nhà đầu tư có thể cùng tạo ra không chỉ là lợi nhuận từ một chuỗi sản phẩm nông nghiệp có biên lợi nhuận cao, mà còn là vị thế người tiên phong xây dựng một ngành hàng mới tại Việt Nam, gắn với câu chuyện bảo tồn giống bản địa và trao quyền kinh tế cho phụ nữ nông thôn.
PV: Chị muốn gửi thông điệp gửi tới các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, tổ chức đang tìm kiếm dự án phát triển bền vững để đồng hành cùng dự án hoa hồng cổ Đà Lạt?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Chúng tôi muốn nhắn gửi rằng, dự án hoa hồng cổ Đà Lạt không phải là một câu chuyện nông nghiệp nhỏ lẻ, mà là một mô hình kinh tế xanh có thể nhân rộng, nơi lợi nhuận kinh tế, giá trị xã hội và giá trị thương hiệu cùng song hành và củng cố lẫn nhau.
Về hiệu quả kinh tế, đây là một chuỗi giá trị được thiết kế bài bản từ giống, canh tác, chế biến đến thị trường, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế để có thể xuất khẩu - đó là cơ sở cho một mô hình kinh doanh có khả năng sinh lời bền vững, chứ không phải một dự án mang tính phong trào.
![]() |
| Phụ nữ nông thôn và nhà khoa học cùng mong dự án hoa hồng cổ Đà Lạt tìm được nguồn lực để hiện thực hóa mô hình sinh kế bền vững |
Về giá trị xã hội, mỗi đồng vốn đầu tư vào dự án là một đồng vốn trực tiếp cải thiện sinh kế cho phụ nữ, người cao tuổi và các hộ sản xuất nhỏ ở nông thôn - những nhóm dễ bị bỏ lại phía sau nhất trong quá trình phát triển kinh tế. Đây là loại hình đầu tư có tác động đo lường được, phù hợp với xu hướng đầu tư có trách nhiệm (ESG) mà nhiều quỹ và doanh nghiệp đang tìm kiếm.
Về giá trị thương hiệu, một sản phẩm gắn với câu chuyện bảo tồn giống hoa hồng cổ bản địa, được khoa học chứng minh chất lượng và gắn với hành trình trao quyền cho phụ nữ nông thôn, sẽ luôn có sức hút đặc biệt với người tiêu dùng hiện đại, cả trong nước lẫn quốc tế - đó là loại thương hiệu có chiều sâu câu chuyện, không dễ sao chép và có giá trị lâu dài.
Chúng tôi tin rằng, những nhà đầu tư đồng hành với dự án ngay từ giai đoạn đầu này sẽ không chỉ nhận được lợi nhuận từ một ngành hàng mới đầy tiềm năng, mà còn trở thành một phần của câu chuyện phát triển bền vững, nhân văn và có ý nghĩa lan tỏa lâu dài tại Việt Nam.
Dự án tập trung vào 5 nhóm hoạt động:
1. Sản xuất cây giống và trồng thử nghiệm: xây dựng quy trình nhân giống hoa hồng cổ Đà Lạt thích nghi với miền Bắc, lập vườn ươm trình diễn và đào tạo 15–20 hộ dân về sản xuất cây giống, cải tạo đất hữu cơ và sử dụng phân vi sinh.
2. Mở rộng vùng trồng: xây dựng quy trình canh tác định hướng GlobalGAP, hỗ trợ cây giống và phân hữu cơ theo cơ chế cho vay đầu vào, thu hồi từ thu nhập sau thu hoạch. Diện tích dự kiến đạt 720–1.800 m² tại các hộ tham gia.
3. Phát triển công nghệ chế biến: nghiên cứu, hoàn thiện 3–5 sản phẩm từ hoa hồng, đồng thời đào tạo phụ nữ về chế biến an toàn và hỗ trợ đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm Việt Nam.
4. Xây dựng thị trường và bán hàng đa kênh: thiết lập ít nhất 1 kênh bán hàng trực tuyến và 1 điểm bán trực tiếp, đồng thời tổ chức livestream bán hàng, kết hợp đào tạo kỹ năng marketing số cho phụ nữ.
5. Tăng cường liên kết cộng đồng: phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ, chính quyền và Hội Nông dân địa phương trong lựa chọn hộ tham gia, đào tạo, truyền thông và phát triển thị trường.
Đối tượng hưởng lợi
Đối tượng hưởng lợi trực tiếp là 15–20 phụ nữ nông thôn và các hộ dễ bị tổn thương, trong đó ít nhất 70% người tham gia là phụ nữ trưởng thành. Nhóm hưởng lợi gián tiếp gồm các thành viên gia đình, cộng đồng địa phương và các địa bàn có khả năng nhân rộng mô hình.
Một điểm đáng chú ý là dự án được thiết kế dựa trên tham vấn trực tiếp phụ nữ trồng hoa tại địa phương. Khảo sát thực địa tháng 3/2026 cho thấy phụ nữ có nhu cầu được hỗ trợ kỹ thuật, chế biến và thị trường nhưng gặp khó khăn về vốn đầu tư ban đầu, kỹ năng công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường. Những phản hồi này được đưa trực tiếp vào thiết kế dự án, như đào tạo tại vườn, hỗ trợ đầu vào theo hình thức cho vay và đào tạo bán hàng số.
Kết quả kỳ vọng
Sau dự án, kỳ vọng:
• 15–20 hộ, ít nhất 70% do phụ nữ làm chủ, tham gia chuỗi giá trị hoa hồng và có thể tăng thu nhập 20–30% trong vòng 24 tháng.
• Hình thành 3–5 sản phẩm thương mại từ hoa hồng đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm.
• Có ít nhất 1 kênh bán hàng trực tuyến và 1 kênh bán trực tiếp.
• Xây dựng được mô hình chuỗi giá trị hoàn chỉnh, có tài liệu hóa và có khả năng nhân rộng sang các địa phương khác.
• Nâng cao kỹ năng kỹ thuật, chế biến, bán hàng và marketing số cho phụ nữ nông thôn.
• Tăng năng lực của các tổ chức địa phương trong việc triển khai các chương trình sinh kế dựa trên khoa học và công nghệ.
Điểm nổi bật của dự án
Dự án không chỉ dừng ở hỗ trợ phụ nữ trồng một loại cây, mà hướng tới tạo dựng một chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh, trong đó khoa học và công nghệ được đưa vào từng khâu từ giống, canh tác, chế biến đến thị trường. Đây cũng là dự án đặt phụ nữ ở vị trí chủ thể: họ vừa là người sản xuất, vừa được đào tạo để trở thành người chế biến, kinh doanh và tham gia phát triển thị trường.
Về môi trường, dự án định hướng canh tác hữu cơ, sử dụng phân hữu cơ vi sinh, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học; phụ phẩm như thân, lá được tận dụng làm phân compost. Hồ sơ đánh giá không dự kiến có tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường.
Dự án đang tìm kiếm nguồn lực để hiện thực hóa mô hình sinh kế bền vững. Các doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức và nhà tài trợ quan tâm có thể liên hệ COSTAS để hợp tác, đồng hành cùng dự án.






















PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Biến phụ phẩm thành giá trị, đưa chế biến sâu về vùng nguyên liệu
PGS.TS. Nguyễn Minh Tân: Muốn đưa nghiên cứu ra thị trường, nhà khoa học phải hiểu doanh nghiệp
PGS.TS Nguyễn Minh Tân được vinh danh trong top 100 nhà khoa học xuất sắc châu Á năm 2026
“Khát vọng Hải Đăng” vinh danh PGS.TS Nguyễn Minh Tân
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: "Nếu có một quả cam trong tay bạn..."
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Dự án Mật ong Thảo mộc là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản sạch
Cùng chuyên mục
Từ một loài hoa bản địa đến chuỗi giá trị mới cho phụ nữ nông thôn
TS. Tôn Nữ Quỳnh Trang dùng vải cotton dò chất màu trên tôm
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Biến phụ phẩm thành giá trị, đưa chế biến sâu về vùng nguyên liệu
Mở lại một công bố quốc tế để thấy tiềm năng của khoa học Việt Nam
Vinmec “hồi sinh” đôi chân cho chàng trai 23 tuổi nhờ xương sên in 3D độc bản
Nghiên cứu: Curcumin trong nghệ nổi bật về hiệu quả chống ung thư và độ an toàn