Thành tựu của chị không chỉ khẳng định năng lực của một nhà khoa học nữ giàu đam mê mà còn cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của các nghiên cứu ứng dụng trong việc nâng cao giá trị nông sản Việt. Cuộc trò chuyện sau đây sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn hành trình khoa học bền bỉ và đầy cảm hứng của chị.
![]() |
PV: Thưa PGS.TS Nguyễn Minh Tân, chị từng chia sẻ quan điểm “Không nghiên cứu cái mình có, mà nghiên cứu cái xã hội cần”. Điều gì đã hình thành và nuôi dưỡng triết lý khoa học này trong suốt hành trình nghiên cứu của chị, đặc biệt trong bối cảnh khoa học ứng dụng đang ngày càng gắn với nhu cầu thị trường?
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Quan điểm đó hình thành từ chính môi trường làm khoa học ứng dụng, nơi đích đến của các công trình nghiên cứu cần phải là lời giải cho các vấn đề/thách thức trong thực tiễn cuộc sống. Khi chứng kiến nông sản Việt Nam gặp khó trong tiêu thụ do thiếu công nghệ chế biến, tôi nhận ra rằng nhà khoa học không chỉ tạo tri thức mà còn cần phải góp phần trong quá trình chuyển tri thức thành giá trị cụ thể phục vụ xã hội, nhất là tại Việt Nam. Triết lý “nghiên cứu cái xã hội cần” là kim chỉ nam để định hướng đề tài, chọn hướng đi bền vững, gắn với nông dân và doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ thay vì chỉ dừng ở lý thuyết.
Năm 2025, công nghệ JEVA do chị và cộng sự phát triển tiếp tục được nhắc đến như một mô hình “cứu nông sản bằng công nghệ xanh”. Nhìn lại chặng đường vừa qua, đâu là yếu tố then chốt giúp nhóm nghiên cứu vượt qua những thách thức kỹ thuật để đưa công nghệ này đến gần hơn với doanh nghiệp và người nông dân?
Công nghệ JEVA là sản phẩm khoa học và là cốt lõi của giải pháp SMoJEVA (Giải pháp chế biến nông sản di động và thông minh) ra đời trong bối cảnh biến động nông sản sau dịch, nên nhóm phải vừa tối ưu kỹ thuật, vừa đảm bảo chi phí và hình thức triển khai phù hợp để doanh nghiệp nhỏ có thể ứng dụng. Yếu tố then chốt là tinh thần đồng hành cùng đối tác doanh nghiệp, họ giúp nhóm hiểu rõ nhu cầu và những giới hạn của doanh nghiệp trong thực tế; còn nhà khoa học mang đến giải pháp kỹ thuật tối ưu năng lượng, bảo toàn dưỡng chất tự nhiên và đưa ra lộ trình triển khai phù hợp với các nguồn lực của doanh nghiệp. Thêm vào đó, sự hỗ trợ từ các chương trình ươm tạo/cuộc thi đổi mới sáng tạo quốc gia và quốc tế đã giúp nhà khoa học có thêm được kiến thức về thị trường, cơ hội tham gia vào các mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia/quốc tế giúp rút ngắn và tăng cường đáng kể hiệu quả của hành trình đưa công nghệ vượt qua giai đoạn thử nghiệm và bước vào giai đoạn thương mại hóa.
Các nhà khoa học và đối tác doanh nghiệp cần học hỏi để tìm được tiếng nói chung thì mới có thể tạo khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Để bắt các doanh nghiệp “học” ngôn ngữ của nhà khoa học thì rất khó, gần như không khả thi. Vậy nên, phương án tiếp cận khác hiệu quả hơn là cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học “học” ngôn ngữ của doanh nghiệp/thị trường và tạo ra cầu nối giữa 2 bên.
Với định hướng nâng hàm lượng công nghệ cho nông sản Việt, chị đang triển khai dự án chế biến sâu quả thanh long bằng công nghệ xanh và AI. Chị có thể chia sẻ thêm về những điểm mới của dự án này và cách nó góp phần giảm phát thải, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu?
Dự án VinIF2024.DA131 đang thực hiện bởi sự tài trợ của Quỹ VinIF với tên: Phát triển giải pháp công nghệ toàn diện chế biến sâu – theo hướng không chất thải/zero waste và bền vững quả thanh long (Hylocereus) thành đồng thời nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường châu Âu thích hợp áp dụng cho các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ tại Việt Nam.
Dự án hướng tới các mục tiêu: xây dựng và tối ưu quy trình chế biến toàn bộ quả thanh long thành nhiều sản phẩm (từ thịt và vỏ quả); hoàn thiện quy trình xử lý và tái sử dụng ≥80% nước thải; thiết kế hệ thống thiết bị công nghiệp; phát triển hệ thống giám sát–điều khiển SCADA ứng dụng IoT; và thiết lập quy trình chuyển giao công nghệ chế biến sâu, không chất thải cho doanh nghiệp nhỏ.
![]() |
Sản phẩm dự án gồm trọn bộ quy trình chế biến, xử lý nước thải và phần mềm điều khiển, dễ triển khai cho doanh nghiệp nhờ hệ thống vận hành, giám sát tự động qua internet. Hệ thống tích hợp CFM cho phép xác định dấu chân carbon theo thời gian thực, hỗ trợ quyết định giảm phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất bền vững, qua đó tăng tính minh bạch và khả năng thâm nhập thị trường.
Dự án góp phần phát triển công nghệ sau thu hoạch, tạo nền tảng cho mô hình chế biến không chất thải ở nhiều loại nông sản, đồng thời thúc đẩy công nghệ tận dụng phế thải. Khi ứng dụng thực tế, giải pháp giúp nâng giá trị quả thanh long, ổn định sinh kế nông dân và duy trì môi trường bền vững.
Trong quá trình chuyển giao công nghệ, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đâu là khó khăn lớn nhất mà chị và Viện Nghiên cứu phải đối mặt? Chị có đề xuất gì để thu hẹp khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thực tiễn sản xuất ở Việt Nam?
Thách thức lớn nhất là sự khác biệt rất lớn về lối suy nghĩ (mindsets) giữa các nhà khoa học và chủ doanh nghiệp. Cần có tạo ra các mô hình “bãi thử công nghệ/technology testbed”, nơi các công nghệ được các nhà khoa học phát triển trong phòng thí nghiệm được triển khai để sản xuất ra sản phẩm “như thật” ở quy mô pilot, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và các nhà khoa học mạnh dạn tiến thêm một bước về phía nhau. Đây cũng là nơi công nghệ được thử nghiệm và tinh chỉnh phù hợp với quy mô sản xuất thực tế.
Theo quan điểm của tôi, đây không phải là khó khăn mà chính là một thách thức, nhưng thách thức này lại tạo ra nhu cầu về sự xuất hiện của các spin-off của các trường đại học thực hiện các dịch vụ triển khai, thử nghiệm, tư vấn công nghệ, cung cấp các dịch vụ R&D cho các doanh nghiệp, dịch vụ vận hành hệ thống…
Sau nhiều năm hợp tác quốc tế, đặc biệt với nhóm nghiên cứu tại Đại học Johannes Kepler Linz (Áo), chị đánh giá như thế nào về vai trò của hợp tác xuyên biên giới trong việc giúp các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận xu hướng nghiên cứu hiện đại và thương mại hóa kết quả khoa học?
Hợp tác quốc tế giúp nhà khoa học Việt Nam cơ hội trao đổi học thuật và tăng cường trải nghiệm trong môi trường nghiên cứu trình độ cao. Thông qua các hợp tác nghiên cứu JKU Linz (CH Áo), TU Dresden (CHLB Đức), chúng tôi đã học hỏi được không chỉ về cách tổ chức, thực hiện các dự án nghiên cứu mà còn về các phương thức hợp tác giữa các nhà khoa học và đối tác công nghiệp, cách quản lý và khai thác tài sản trí tuệ là kết quả của hợp tác nghiên cứu… Đây là hướng đi mà Việt Nam rất cần thúc đẩy.
![]() |
Nhiều người biết đến chị như một nhà khoa học nữ tiên phong trong công nghệ hóa học ứng dụng, nhưng chị lại không muốn nói nhiều về giới tính. Tuy nhiên, với vai trò là người truyền cảm hứng cho sinh viên, chị kỳ vọng thế hệ trẻ, đặc biệt là nữ sinh ngành kỹ thuật, sẽ thay đổi nhận thức và tiếp cận khoa học theo cách nào?
Điều tôi mong muốn không phải là nhấn mạnh giới tính, mà là khuyến khích tinh thần dấn thân của giới trẻ trong khoa học. Nữ sinh ngành kỹ thuật cần tin rằng năng lực nghiên cứu không bị giới hạn bởi giới tính mà bởi đam mê và kiên trì. Khoa học ứng dụng ngày càng linh hoạt, nên chỉ cần dám đặt câu hỏi và không ngại bắt đầu từ những nhu cầu rất thực của xã hội, mỗi người đều có thể tạo ra giá trị. Giới hạn và định kiến lớn nhất tồn tại trong đầu của chúng ta chứ không phải là từ bên ngoài. Các bạn nữ hãy coi sự khác biệt về giới tính là điểm đặc biệt, riêng biệt chứ không phải là điểm yếu.
Cảm ơn chị về cuộc trao đổi!


















PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Dự án Mật ong Thảo mộc là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản sạch
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: "Nếu có một quả cam trong tay bạn..."
Cơ hội khẳng định mình của nữ trí thức trong kỷ nguyên số
Hội Nữ trí thức Việt Nam là ngôi nhà trí tuệ hội tụ những tấm lòng vì khoa học, vì cộng đồng
PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan: Nữ khoa học Việt Nam ghi dấu trên tạp chí y học hàng đầu thế giới
PGS.TS Bùi Thị An và những kiến nghị cốt lõi cho Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ trí thức
Cùng chuyên mục
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Khi nhà khoa học chọn nghiên cứu điều xã hội cần
Chọn giống tốt, dùng AI đúng cách: Góc nhìn từ hai nữ trí thức Việt tại châu Âu
Nữ tiến sĩ trở về từ Nhật Bản mang theo hoài bão thực hành “quản trị bằng yêu thương”
Chuyện về Laura Bassi, nữ tiến sĩ mở đường cho phụ nữ làm khoa học
PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan: Nữ khoa học Việt Nam ghi dấu trên tạp chí y học hàng đầu thế giới
Nhà khoa học nữ và hành trình đưa công nghệ số về ruộng đồng