… “Đánh những chiêng ấm tiếng nhất! Đánh cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ! Đánh cho tiếng chiêng luồn qua nhà sàn, lan xuống dưới đất! Đánh cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất! Đánh cho các âm hồn nghe tiếng cũng thôi làm hại người ta. Đánh cho chuột, sóc cũng quên đào hang. Cho rắn bò ra khỏi lỗ. Cho hươu nai phải đứng thinh mà nghe. Cho thỏ lắng tai không kịp ăn cỏ. Cho tất cả muôn vật chỉ còn có thể lắng tai mà nghe tiếng chiêng của Hơnhí và Hơbhí”.
Sử thi Trường ca Đam San
Theo tài liệu chính thống, và người già kể lại, Pô khan (người hát kể khan) của người Ê đê từ ngàn xưa có thể là đàn ông hoặc đàn bà nhưng nhất định phải là một người biết nhiều, một người có uy tín trong Buôn, cũng lại là người có giọng nói/hát rền vang, thuộc rất nhiều làn điệu dân gian của tổ tiên.
![]() |
Trong lời plei khan (hát kể khan) luôn nhắc nhở đến những cây cung tấm khiên (khiêl), và đặc biệt là những dàn chiêng (ching) với chiếc char (chiêng bằng) to lớn giữ nhịp cho cả dàn chiêng như một cách phô diễn sự giàu có và sự dũng mãnh của xứ sở. Ngày nay, người ta gọi những người kể khan là các nghệ nhân. Nhưng cũng lại nghe nói, ngày nay không còn mấy những Pô khan như thế. Vì người biết khan (những sử thi, truyền thuyết) cùng các Pô không còn mấy nữa.
Từ nhiều chục năm nay, những đêm plei khan ít dần, vì plei khan vốn chỉ diễn ra vào những đêm mừng thu hoạch mùa mới, mừng tìm được bến nước, hay dựng nhà rông, hoặc vào đêm trước ngày tiễn đưa người chết ra nhà mồ… Nó vốn gắn liền với các nghi lễ cúng tế của cộng đồng, mà các nghi lễ ấy đã dần biến mất, hoặc còn đâu đó thì cũng đã được “sân khấu hóa” mang nặng tính biểu diễn hơn là một lễ hội được phát sáng từ đại ngàn hùng vĩ.
Tôi đã gặp gỡ 5 người Ê đê, những chàng trai lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1985, nghĩa là cả 5 người cùng sinh ra và lớn lên khi những nghi lễ truyền thống cùng lời kể khan của tổ tiên đang ẩn chìm dần trong lớp lớp những bề bộn mưu sinh, những biến thiên của thời cuộc. Cả 5 chàng trai ở những buôn làng khác nhau cách nhau hàng vài chục cây số, thậm chí không hề biết nhau… Họ chỉ chung một ý chí: khôi phục dàn chiêng, char (ching, char…) của người Ê đê cho buôn làng mình. Mỗi người một cách, mỗi người một con đường, họ đã làm cái việc gian nan vô chừng khi mà từ hàng chục năm trước, tiếng chiêng trong buôn làng của họ dường như đã tắt lịm.
Do việc tấu chiêng gắn liền với các nghi lễ tâm linh từng bị coi là mê tín dị đoan. Do các thương lái đi tìm đồng đen – thứ kim loại hiếm độc hơn cả vàng - và biết các núm chiêng của người Tây Nguyên nhất định phải được chế bằng đồng đen như thế. Đồng đen ở các núm chiêng khiến cho âm thanh sâu hơn, vang xa hơn, ngân dài hơn. Khi những dàn chiêng mất không gian trình tấu, dần biến mất hoặc mọt ruỗng trên những gác bếp thờ ơ… thì những giọng kể plei khan cũng dần lịm đi trong đêm tối đại ngàn.
![]() |
Ngày nay, đại chúng đã được chứng kiến những Liên hoan cồng chiêng cấp quốc gia, và nghệ thuật cồng chiêng cũng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhưng cách đây hàng chục năm, những dàn chiêng gần như biến mất. Và những chàng trai Ê đê đã dũng cảm lên đường làm cuộc phục hưng âm thanh đại ngàn ấy.
Trong cuộc điền dã ngắn ngủi hơn một tuần của tôi đã dần hé lộ một “bí mật” thú vị. Đó là dù cách bắt đầu khác nhau, con đường phục hồi dàn chiêng cho buôn làng khác nhau, nhưng cả 5 chàng trai đều có một điểm xuất phát giống nhau. Đó là tiếng kể/hát khan luôn văng vẳng từ thuở ấu thơ qua những đêm ngủ bên bếp lửa cùng bà ngoại hoặc mẹ. Không còn không gian diễn xướng, plei khan sống len lỏi trong tâm thức Tây Nguyên bằng lời ru.
Do phong tục mẫu hệ còn duy trì đến ngày nay, mọi đứa trẻ dù trai hay gái đều sống trong nhà ngoại, vì vậy những lời ru theo thể cách plei khan đều được thấm đẫm bằng những đêm bên bếp lửa âm thầm mà lung linh. Trong những đêm như thế, hình ảnh những người anh hùng như Đam San, Xing Nhã… hiện lên dũng mãnh cùng với tiếng chiêng âm vang trầm hùng.
Người Việt từng nói “Nếu đàn ông giữ bờ cõi cương thổ, thì người đàn bà sẽ phải giữ bờ cõi tâm linh”. Có lẽ điều này cũng đúng với người Ê đê, khi mà plei khan chuyển từ diễn xướng cộng đồng thành lời ru của bà/mẹ, để rồi tiếng chiêng cũng theo đó mà len lỏi trong tâm thức những đứa trẻ của nhiều thế hệ sau.
Khi được hỏi nguyên cớ nào khiến em quyết định gây dựng lại dàn chiêng cho buôn làng, Y Bay, chàng trai sinh năm 1977 kể: “Ngày nhỏ, em nghe bà ngoại hát ru, trong lời hát kể nhiều về dàn chiêng lớn 10 chiếc của người Ê đê. Hình ảnh những chàng trai đánh chiêng thật đẹp, thật mạnh mẽ… Sau này em biết đó là bà kể khan cho em nghe. Và em biết dàn chiêng quan trọng với cuộc sống tinh thần người Ê đê thế nào”.
Cùng một câu hỏi với 4 người còn lại, tôi có được 5 câu trả lời giống nhau, dù cách nói, từ dùng không phải lúc nào cũng trùng khớp. Thông điệp này quả đã mang lại một xúc cảm đầy phức điệu và sâu sắc. Nó khiến tôi như thấy những đôi mắt trẻ con trong veo đang ngước nhìn gương mặt chập chờn qua ánh lửa nhà dài cổ xưa, lắng nghe tiếng plei khan trầm bổng, thủ thỉ của những người đàn bà lớn tuổi trong gia đình. Văng vẳng trong ánh lửa ấy là tiếng những dàn chiêng tấu lên, những cánh tay vạm vỡ của những người đàn ông ở trần đóng khố vung dùi chiêng trong một nghi lễ đầy đam mê…
Và như thế, hành trình tìm lại tiếng chiêng của các chàng trai bắt đầu. Những nguyên cớ cụ thể không giống nhau nhưng hành trình thì cùng hướng về một đích đến.
![]() |
Một chàng trai kể, anh chỉ thực sự nhận ra cần phải làm việc ấy khi đã cưới vợ, tức là khoảng 20 tuổi. Sáng sớm còn ngái ngủ bên cô vợ mới cưới nõn nà, anh bị đánh thức bởi một âm thanh kỳ lạ, nghe đùng đục, nghẹn ngào nhưng nhịp nhàng và dai dẳng. Lần theo âm thanh ấy, anh bắt gặp ông bố vợ ở tuổi trung niên đang ngồi ở đầu sàn… đánh chiêng mồm. Thì ra ông từng là một người trong dàn chiêng của Buôn khi mới 15 tuổi. Và chỉ ngưng đánh nó trong gần chục năm trở lại, khi những chiếng chiêng lần lượt bị bán đi cho thương lái. Ông nói về nỗi nhớ ấy, và khóc. Khi ấy, chàng rể hiền đã tự thề sẽ đi tìm lại bằng được những chiêng ấy cho cha vợ, cho mình và cho buôn làng.
Trong một câu chuyện khác, một chàng thanh niên kể rằng khi anh 14 tuổi, trong Buôn có người già đang hấp hối, mà đã mấy ngày trời không thể trút hơi thở cuối cùng. Cậu bé theo cha đến thăm ông lão, mới biết ông không thể nhắm mắt vì ao ước được nghe lần cuối dàn chiêng tấu lên như một lời an ủi tiễn đưa mình. Cậu bé nhớ ra trong nhà còn sót lại hai chiếc chiêng trong dàn chiêng 7 chiếc mà ông nội từng giữ như của gia bảo. Cậu nói cậu sẽ về lấy chiêng, và sẽ tấu chiêng để tiễn đưa ông lão. Nhưng ông lão đã lắc đầu.
Phong tục không cho phép những đứa trẻ chưa đủ tuổi trưởng thành (chưa lấy vợ) được tấu chiêng tiễn đưa người quá cố. Chưa kể, chiêng không thể đánh một chiếc. Chiêng phải có một dàn từ 7 đến 10 chiếc, với độ to nhỏ khác nhau, âm thanh khác nhau mới có thể hòa tấu. Chiêng cũng không phải là thứ cứ cầm lên là đánh vô tội vạ được. Người đánh chiêng cần được tập tành cùng nhau, hiểu ý nhau và thuộc cung bậc âm thanh của chiếc chiêng do mình phụ trách cùng các cung bậc hòa điệu của cả dàn chiêng. Nhưng đến thời điểm ấy, còn chiêng đâu mà tập, còn người biết chiêng đâu mà hòa tấu. Ông lão đã ra đi trong nỗi niềm không thể được đáp ứng của mình. Và đó là giọt nước tràn bờ khiến cái khao khát mơ hồ trong những đêm nghe mẹ hát kể khan trở thành cháy bỏng, thôi thúc cậu bé bắt đầu hành trình của mình.
![]() |
Còn nhiều lắm những khoảnh khắc “đốn ngộ” để những chàng trai Ê đê thế hệ 7X, 8X… bắt đầu con đường khó khăn của người phục hưng nghệ thuật đánh chiêng của dân tộc mình. Để làm việc ấy, họ không chỉ cần có tiền, cần sự kiên nhẫn mót nhặt từng đồng bạc đi làm thuê, làm rẫy để gom góp mua dần từng chiếc chiêng cho đến khi đủ một dàn chiêng theo quy ước.
Được biết ở một buôn trong huyện Ea H’leo (cũ), có một thầy giáo trung học cơ sở đã lưu giữ nâng niu trong nhà mình một bộ chiêng đầy đủ như một bộ sưu tập quý giá. Rồi ông nghe những “đương kim” học trò xôn xao một học trò cũ của mình đang vất vả sưu tập chiêng để gầy dựng một dàn chiêng cho thanh thiếu niên trong buôn. Ông lặng lẽ quan sát, tìm hiểu, và thương cho cái khát vọng đau đáu của cậu học trò năm xưa. Rốt cục, ông đã quyết định đem tặng nguyên dàn chiêng ấy cho cái câu lạc bộ chiêng mới manh nha. Việc làm này đã làm thức tỉnh những người lãnh đạo văn hóa của xã, rồi tỉnh.
Những chiếc chiêng cũ và mới được chính quyền cử nghệ nhân tới giúp chỉnh tiếng để đạt đến âm thanh chuẩn mực. Thậm chí một số Buôn còn đặc biệt được thưởng/ tặng những dàn chiêng mới đúc… khiến cho phong trào phục hưng lại dàn chiêng/ char trở nên rộng khắp và mạnh mẽ. Và sự phát triển đầy khích lệ ấy đã thúc đẩy những liên hoan cồng chiêng cấp xã, cấp tỉnh, rồi cấp quốc gia… được tổ chức thường niên, gây sự chú ý đặc biệt với các tổ chức văn hóa trong nước và quốc tế.
![]() |
Những người tiên phong đi tìm lại tiếng chiêng đã dần bước vào tuổi trung niên. Theo gót họ là những thanh thiếu niên mới lớn tham gia một cách say mê và được sự ủng hộ nhiệt tình của gia đình, buôn làng. Những trang phục do gia đình tự may lớn dần theo độ tuổi của các “nghệ nhân” trẻ, những chiếc chiêng từng bị bỏ quên trong bếp nay được gom góp lại. Nghề đúc chuông được phục hồi. Những người phụ nữ tham gia các đội Xoang nhiệt tình, người già dạy cho người trẻ… bà/mẹ dạy cho con gái, khiến cho không khí của buôn làng trở nên sống động hơn bao giờ hết.
Thực lòng mà nói, bản sắc văn hóa Tây Nguyên, đặc biệt là nghệ thuật cồng chiêng là những câu chuyện không bao giờ kể hết được. Nó cho thấy hành trình đi tìm lại bản thể của chính những người con Tây Nguyên nói chung và Ê đê nói riêng. Nó cũng cho thấy, phục hưng văn hóa không phải là một công việc mang tính lý trí hay áp đặt. Sự phục hưng ấy nhất định phải xuất phát từ chính tâm thức cội nguồn của người bản địa, và Nhà nước, trong thiện tâm và thấu hiểu của mình có thể giúp người dân bản địa đi tìm lại chính họ trong ký ức tập thể của dân tộc sinh ra họ. Văn hóa, trong tình huống ấy quả thực sẽ là những sinh thể sống động chứ không phải là những mô hình khô cứng trong sách vở hay bảo tàng./.



























Mùa xuân trở lại buôn Con Ó
Chuyện về nữ cựu chiến binh làng S'Tiêng với những kí ức của cô “bộ đội nhỏ” về những trận chiến khốc liệt
Làm dâu người Ơ Đu
Khoai sọ Cụ Cang
Về quê vải tổ
Mong manh giấy dó Quảng Uyên
Cùng chuyên mục
Lẳng lặng nghe trong lời gỗ tự tình
Du lịch khoa học: Những điểm đến của tri thức
Đi tìm nữ thần mặt trời
Từ "chông gai" của Hoàng Rob đến câu hỏi về một thế hệ nghệ sĩ mới
Vingroup tặng 50% giá vé show “Đất nước thiên hùng ca” - tri ân người có công, người cao tuổi và học sinh, sinh viên
Rạp Việt tháng 8/2026: Đa dạng thể loại từ Kinh dị, Hành động đến hoạt hình gia đình