![]() |
| PGS.TS Nguyễn Ý Như hiện là Trưởng Bộ môn Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. |
Khi nước được chuyển từ mùa lũ sang mùa khô
Tại Sơn Tây, nơi sông Đà đóng góp hơn 40% lưu lượng cho hệ thống sông Hồng, mùa lũ từng chiếm khoảng 83% tổng dòng chảy trong năm. Sau khi các hồ Hòa Bình, Sơn La và Lai Châu đi vào vận hành, tỷ lệ này giảm còn 69–72%.
Con số trên không có nghĩa sông Đà đơn thuần ít nước hơn. Điều thay đổi rõ nhất là thời điểm nước xuất hiện: một phần dòng chảy được giữ lại trong mùa mưa và bổ sung vào mùa khô. Dòng sông vì thế bớt cực đoan theo mùa nhưng cũng rời xa nhịp vận động tự nhiên trước đây.
Đây là một trong những kết quả chính của nghiên cứu “Hydrological Alterations of the Da River by Cascade Reservoir”, công bố tháng 11/2025 trên VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences. PGS.TS Nguyễn Ý Như đứng tên đầu, đồng thời là tác giả liên hệ của công trình.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Ý Như trình bày về bài toán thiếu dữ liệu thượng nguồn tại hội thảo tháng 3/2026. |
Bà hiện là Trưởng Bộ môn Thủy văn và Tài nguyên nước, Khoa Khí tượng, Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, theo hồ sơ cán bộ của nhà trường.
Ba thập niên bằng chứng thay cho một phép đo đơn lẻ
Nghiên cứu không dựa trên một đợt khảo sát hay một chuỗi quan trắc mới. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp tổng quan có hệ thống để tập hợp những bằng chứng đã được công bố trong giai đoạn 1980–2024.
Từ 124 tài liệu được xác định ban đầu, nhóm loại các công trình trùng lặp, thiếu dữ liệu định lượng hoặc không có cơ sở so sánh. Cuối cùng, 30 nghiên cứu được đưa vào phân tích, gồm 22 bài báo quốc tế, 5 công trình trong nước và 3 báo cáo dự án.
Cách làm này cho phép đặt những kết quả vốn được thu thập ở các trạm, thời kỳ và khoảng cách khác nhau so với hồ chứa vào cùng một khung so sánh. Các chỉ số được xem xét bao gồm tỷ lệ dòng chảy theo mùa, đỉnh lũ, lưu lượng mùa kiệt, biến động ngắn hạn và lượng phù sa lơ lửng.
Kết quả tổng hợp cho thấy đỉnh lũ giảm hơn 30%, trong khi dòng chảy mùa kiệt tăng khoảng 10–20%. Lưu lượng thấp được duy trì từ 1.500 m³/giây trở lên trong những giai đoạn được nghiên cứu. Việc điều tiết vì vậy mang lại lợi ích rõ ràng cho kiểm soát lũ, cấp nước và sản xuất điện.
Tuy nhiên, ở những đoạn gần cửa xả đập, dòng chảy có thể biến động mạnh theo chu kỳ vận hành trong ngày. Càng đi xa hồ, dao động ngắn hạn càng giảm, nhưng dấu hiệu chuyển nước từ mùa lũ sang mùa khô vẫn còn rõ.
Dòng nước trong hơn không hẳn là tin vui
Thay đổi đáng chú ý nhất không chỉ nằm ở lượng nước mà còn ở lượng vật chất được dòng sông vận chuyển.
Theo tổng hợp của nhóm PGS.TS Nguyễn Ý Như, tải phù sa lơ lửng về Sơn Tây giảm khoảng 52–80% sau khi hồ Hòa Bình tích nước. Các hồ giữ lại lượng lớn bùn cát ở phía thượng lưu, khiến nước xuống hạ du trong hơn nhưng đồng thời làm suy yếu quá trình bồi đắp tự nhiên.
![]() |
| Hồ Hòa Bình là công trình đầu tiên trong chuỗi hồ lớn được nghiên cứu trên sông Đà. Ảnh: CactiStaccingCrane/Wikimedia Commons, giấy phép CC0. |
Phù sa không chỉ là lớp bùn nhìn thấy sau mỗi mùa lũ. Nó cung cấp vật chất cho bãi sông, đồng bằng và sinh cảnh thủy sinh. Khi nguồn phù sa giảm mạnh, cân bằng bồi – xói có thể thay đổi, trong khi lòng sông và vùng cửa sông phải thích nghi với một dòng nước ít trầm tích hơn.
Đây cũng là lý do giá trị hệ sinh thái cần được đưa vào bài toán phát triển vùng ven biển. Những lợi ích dễ quy đổi thành điện năng, nguồn nước hay diện tích sản xuất cần được đặt cạnh các giá trị khó nhìn thấy hơn như phù sa, sinh cảnh và khả năng tự phục hồi của hệ thống sông.
Không thể quy mọi thay đổi cho hồ thủy điện
Một điểm cần đọc thận trọng là tỷ lệ đóng góp của các nguyên nhân. Nghiên cứu cho rằng hoạt động của con người chiếm khoảng 60–70% biến đổi dòng chảy và phù sa, còn khí hậu cùng ENSO đóng góp khoảng 30–40%.
Tuy nhiên, nhóm “hoạt động của con người” bao gồm cả hồ chứa và thay đổi sử dụng đất, trong đó có mất rừng. Vì vậy, không thể dùng tỷ lệ 60–70% để kết luận riêng các hồ thủy điện gây ra toàn bộ mức biến đổi này.
Bản thân nhóm tác giả cũng chỉ ra những giới hạn của nguồn dữ liệu. Phần lớn nghiên cứu trước đây tập trung vào hồ Hòa Bình, trong khi tác động tích lũy của Sơn La và Lai Châu còn ít được lượng hóa. Các phân tích về sinh thái, chất lượng nước và ảnh hưởng kinh tế – xã hội cũng chưa nhiều bằng các nghiên cứu thủy văn.
Kết quả giữa các công trình có thể khác nhau do thời kỳ được chọn làm mốc so sánh, khoảng cách từ trạm đo đến hồ và độ phân giải của dữ liệu. Bởi vậy, vận hành hồ chứa không nên dựa trên một ngưỡng cố định cho toàn bộ hệ thống mà cần tính đến từng vùng, từng mùa và mức độ bất định.
Từ nhận diện đánh đổi đến cải thiện dự báo
Khoảng trống dữ liệu thượng nguồn đang là một hướng nghiên cứu tiếp theo của PGS.TS Nguyễn Ý Như. Tại hội thảo do Cục Khí tượng Thủy văn và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên tổ chức tháng 3/2026, nhóm của bà giới thiệu mô hình kết hợp mô hình vật lý VIC với các thuật toán AI như LSTM và GRU.
Theo thông tin được Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, kết quả thử nghiệm tại trạm Pắc Ma, Lai Châu cho thấy tầm dự báo có thể kéo dài tới 100 ngày. Đây là kết quả được báo cáo tại hội thảo, chưa phải một phần của bài tổng quan sông Đà và vẫn cần được kiểm chứng thêm trước khi chuyển thành công cụ vận hành thường xuyên.
Hướng đi này cho thấy quản lý dòng sông không chỉ là quyết định giữ hay xả bao nhiêu nước. Muốn cân bằng giữa chống lũ, cấp nước, phát điện và duy trì hệ sinh thái, cơ quan vận hành cần dữ liệu đủ dài, thông tin thượng nguồn kịp thời và mô hình có thể cập nhật theo từng tình huống.
Vai trò của dữ liệu khí tượng, thủy văn và hệ thống cảnh báo sớm vì thế không dừng ở dự báo một trận lũ. Dữ liệu còn là cơ sở để nhận ra những thay đổi diễn ra chậm trong nhiều thập niên và điều chỉnh cách con người vận hành cả một lưu vực.
Công trình của PGS.TS Nguyễn Ý Như không đưa ra một kết luận đơn giản rằng chuỗi hồ chứa chỉ có lợi hoặc chỉ gây tổn thất. Giá trị của nghiên cứu nằm ở việc làm rõ phần được và phần mất bằng những khoảng số liệu cụ thể: đỉnh lũ thấp hơn, nước mùa khô ổn định hơn, nhưng phù sa giảm mạnh và nhịp sinh thái của dòng sông cũng thay đổi.





















PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà: Liên kết vùng để giữ an toàn cho cộng đồng trước khí hậu cực đoan
Những người phụ nữ “đọc vị” bầu trời
NCS. Nguyễn Thị Thu Hà đưa giá trị hệ sinh thái vào bài toán phát triển vùng ven biển
Nữ sinh ĐH Thủy lợi đạt giải nhất nghiên cứu khoa học
Cùng chuyên mục
Dòng chảy sông Đà thay đổi ra sao sau chuỗi hồ thủy điện
Mực bảo mật gần như vô hình phát sáng dưới tia hồng ngoại
Ứng dụng sóng điện từ, siêu âm để nâng giá trị nông sản và dược liệu
GS.TS Lê Mai Hương: Nguồn dược liệu trong nước có giá trị lớn, nhưng việc khai thác, phát triển sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này vẫn còn hạn chế
Nghiên cứu đa dạng thực vật, đề xuất tái tạo khu hệ sinh thái bảo tồn thiên nhiên
Nữ khoa học Việt phát triển cảm biến nano nhận biết diclofenac