![]() |
| Hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ đời sống hộ gia đình là một dạng công việc cần được phân biệt với việc làm tạo thu nhập. Ảnh minh họa: HONG SON/Pexels. |
Hơn 4 triệu người tại Việt Nam làm công việc tự sản, tự tiêu trong sáu tháng đầu năm 2026. Phụ nữ chiếm 65,8% nhóm này và gần 90% sống ở khu vực nông thôn. Riêng quý II, số người tự sản, tự tiêu tăng lên 4,2 triệu, nhiều hơn quý trước khoảng 405.400 người.
Con số 65,8% rất dễ được chuyển thành một kết luận nghe có vẻ hợp lý: phụ nữ Việt Nam tập trung nhiều hơn nam giới trong việc làm phi chính thức hoặc phần lớn phụ nữ đang làm những công việc chỉ phục vụ gia đình. Cả hai cách đọc đều không chính xác.
Trước hết, mẫu số của 65,8% là toàn bộ hơn 4 triệu người làm công việc tự sản, tự tiêu, không phải toàn bộ phụ nữ Việt Nam và cũng không phải toàn bộ lao động nữ. Con số chỉ nói rằng nếu lấy 100 người thuộc nhóm này thì khoảng 66 người là nữ.
Quan trọng hơn, “tự sản, tự tiêu” không phải một cách gọi khác của kinh doanh cá thể, tự doanh hay việc làm phi chính thức.
Làm ra sản phẩm chưa chắc đã là một việc làm tạo thu nhập
Khái niệm này bao gồm những hoạt động tạo ra sản phẩm chủ yếu để người làm hoặc gia đình mình sử dụng. Có thể là trồng rau, nuôi gia súc, đánh bắt, thu hái, chế biến nông sản để dùng trong hộ hoặc làm ra một số đồ dùng cho gia đình. ILO xếp đây vào “own-use production work” - công việc sản xuất cho mục đích sử dụng cuối cùng của chính người sản xuất hoặc hộ gia đình.
Điểm phân biệt nằm ở đích đến của sản phẩm. Một người trồng rau chủ yếu để gia đình ăn thuộc một nhóm thống kê khác với người trồng rau chủ yếu để bán lấy thu nhập. Cùng là lao động ngoài đồng, nhưng quan hệ của họ với thị trường lao động không giống nhau.
Chuẩn thống kê lao động hiện hành của ILO thậm chí tách “work” và “employment”. Employment là công việc được thực hiện để nhận tiền công hoặc lợi nhuận; sản xuất cho nhu cầu sử dụng của chính hộ gia đình được đo như một dạng công việc khác, chứ không tự động được tính là việc làm tạo thu nhập.
![]() |
| Một phụ nữ thu hoạch rau tại Hà Nội. Việc sản phẩm được làm ra để gia đình sử dụng hay để bán là yếu tố quan trọng khi phân loại hoạt động lao động. Ảnh: G Y/Pexels. |
Sự phân biệt này giải thích một điều tưởng như nghịch lý trong số liệu Việt Nam. Sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động phi chính thức ở nữ là 57,9%, thấp hơn mức 65,5% ở nam. Trong khi đó, phụ nữ lại chiếm tới 65,8% nhóm tự sản, tự tiêu. Hai con số không mâu thuẫn vì chúng đo hai hiện tượng khác nhau và sử dụng hai mẫu số khác nhau.
Đây cũng là lý do không nên dùng con số 65,8% để nói rằng phụ nữ “phi chính thức hơn” nam giới. Chính số liệu thống kê năm 2026 cho thấy nếu xét tỷ lệ việc làm phi chính thức trong số người có việc làm của từng giới, nam đang có tỷ lệ cao hơn.
Lao động phi chính thức lại bao gồm nhiều tình trạng rất khác nhau: người tự làm trong khu vực phi chính thức, lao động gia đình không hưởng lương, người làm công không có hợp đồng hoặc không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và một số nhóm khác. Vì thế, nói về chất lượng việc làm của phụ nữ mà gom tất cả những nhóm này vào một khối sẽ làm mất những khác biệt quan trọng.
Ba con số không thể đổi chỗ cho nhau
- 65,8%: tỷ lệ phụ nữ trong nhóm hơn 4 triệu người tự sản, tự tiêu sáu tháng đầu năm 2026.
- 57,9%: tỷ lệ việc làm phi chính thức trong số lao động nữ có việc làm.
- 65,5%: tỷ lệ tương ứng ở lao động nam.
65,8% không có nghĩa 65,8% phụ nữ Việt Nam làm công việc tự sản, tự tiêu. Ba chỉ số có mẫu số và khái niệm khác nhau.
Câu hỏi đáng quan tâm nằm ở chỗ khác
Nếu không dùng 65,8% để kết luận phụ nữ có nhiều việc làm phi chính thức hơn, con số này còn giá trị gì dưới góc nhìn giới?
Giá trị nằm ở việc nó cho thấy phụ nữ hiện diện đặc biệt nhiều trong một dạng lao động tạo ra sản phẩm cho đời sống hộ gia đình nhưng không nhất thiết tạo ra tiền công hoặc lợi nhuận trực tiếp. Đây là khác biệt rất đáng theo dõi bởi khả năng làm ra sản phẩm cho gia đình và khả năng có một nguồn thu nhập riêng là hai chuyện khác nhau.
Số liệu của Ngân hàng Thế giới dựa trên ước tính ILO cho năm 2025 bổ sung một lát cắt khác. Lao động làm công hưởng lương chiếm 41,8% việc làm của nữ tại Việt Nam, trong khi tỷ lệ của nam là 51,3%. Đây là số liệu mô hình hóa chứ không phải cùng một cuộc điều tra với số liệu tự sản, tự tiêu của Cơ quan Thống kê Quốc gia, nên không thể ghép hai nguồn để tính toán một tỷ lệ mới. Tuy vậy, nó cho thấy cấu trúc vị thế việc làm giữa hai giới chưa giống nhau.
Điều cần tránh là chuyển ngay khác biệt đó thành câu chuyện phụ nữ “lệ thuộc” hoặc “không có quyền quyết định”. Số liệu tự sản, tự tiêu không cho biết ai quyết định tiền trong gia đình, ai sở hữu đất, ai muốn tìm việc nhưng không tìm được hay ai chủ động lựa chọn duy trì sản xuất cho hộ. Những câu hỏi ấy phải có dữ liệu riêng.
Cũng không thể coi hơn 4 triệu người tự sản, tự tiêu là những người hoàn toàn không có hoạt động kinh tế khác. Chuẩn thống kê quốc tế cho phép một người đồng thời tham gia nhiều dạng công việc trong cùng thời kỳ, chẳng hạn vừa có việc làm tạo thu nhập vừa sản xuất thêm thực phẩm cho gia đình.
Từ sản xuất cho gia đình tới một nguồn thu nhập riêng
Dữ liệu sáu tháng đầu năm còn cho thấy 89,6% người tự sản, tự tiêu sống ở khu vực nông thôn. Điều này khiến câu chuyện không thể tách khỏi khả năng tiếp cận thị trường, việc làm tại chỗ, giao thông, kỹ năng nghề và quá trình chuyển dịch lao động ở nông thôn.
Số người thuộc nhóm này tăng mạnh trong quý II so với quý I cũng cần được đọc thận trọng. Hoạt động nông nghiệp có tính mùa vụ, trong khi số liệu một quý chưa đủ để xác định một xu hướng dài hạn. Không nên từ mức tăng 405.400 người trong một quý suy ra rằng lao động tự sản, tự tiêu đang gia tăng bền vững hoặc phụ nữ đang rời thị trường lao động để quay về gia đình.
![]() |
| Một phụ nữ chuẩn bị rau tại khu chợ ở Lào Cai. Sản xuất để sử dụng trong gia đình và sản xuất để đưa ra thị trường là hai hoạt động cần được phân biệt khi đọc số liệu lao động. Ảnh: Son Hoa Nguyen/Pexels. |
Điểm đáng quan tâm hơn là đường chuyển đổi của những người muốn tạo thu nhập từ sản phẩm mình đang làm. Một người trồng rau cho gia đình có thể muốn mở rộng để bán; một người làm thực phẩm tại nhà có thể muốn đăng ký kinh doanh; người khác chỉ muốn tiếp tục sản xuất cho nhu cầu của hộ và tìm một công việc trả lương riêng.
Mỗi lựa chọn đòi hỏi chính sách khác nhau. Người muốn bán sản phẩm cần đầu ra, kỹ năng kinh doanh và tiếp cận vốn. Người bước vào kinh doanh nhỏ phải giải quyết đăng ký, thuế và bảo hiểm. Với phụ nữ kinh doanh nhỏ, ngay cả việc duy trì bảo hiểm cũng có thể phụ thuộc vào dòng tiền và tư cách pháp lý của hoạt động kinh doanh.
Tuổi cũng là một biến số cần tách riêng. Trong quý IV/2025, 61,8% số người tự sản, tự tiêu từ 55 tuổi trở lên. Nguồn thống kê không công bố đồng thời bao nhiêu người trong nhóm trên 55 tuổi là nữ, nên không thể suy ra đa số phụ nữ tự sản, tự tiêu là người cao tuổi. Tuy nhiên, dữ liệu này cho thấy khi bàn về phụ nữ cao tuổi tiếp cận chính sách việc làm, cần tách tuổi và giới thay vì chỉ nhìn một tỷ lệ chung.
Từ đây, một câu hỏi thống kê quan trọng hơn xuất hiện: trong số phụ nữ đang tự sản, tự tiêu, bao nhiêu người đồng thời có việc làm tạo thu nhập; bao nhiêu người muốn có thêm việc nhưng chưa tìm được; bao nhiêu người chủ động lựa chọn cách sản xuất hiện tại; và bao nhiêu người muốn chuyển sang sản xuất cho thị trường nhưng vướng vốn, kỹ năng hay đầu ra?
Con số 65,8% không trả lời được những câu hỏi ấy. Nhưng đọc đúng con số giúp xác định chính xác điều còn thiếu. Bình đẳng giới trong thị trường lao động không thể chỉ được đo bằng việc nữ hay nam có “đang làm việc” hay không. Cần biết công việc tạo ra sản phẩm cho ai, có mang lại thu nhập không, người làm có lựa chọn khác không và khả năng chuyển từ lao động phục vụ đời sống hộ sang một nguồn sinh kế ổn định nằm ở đâu.





















Đăng ký kinh doanh đơn giản hơn mở thêm đường cho phụ nữ
Phụ nữ kinh doanh nhỏ đóng bảo hiểm thế nào khi doanh thu thay đổi?
Phụ nữ cao tuổi có dễ tiếp cận chính sách việc làm mới?
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Khoảng cách giới hiện rõ ở các vị trí quản lý
Gần 66% người tự sản, tự tiêu là phụ nữ, đọc sao cho đúng?
Phụ nữ có một lợi thế ít được nhắc tới khi thương lượng
Ngành vận tải tăng việc làm, phụ nữ có thêm cơ hội nào?
Phụ nữ có tài khoản gần ngang nam giới, còn tích lũy thì sao?
Nông nghiệp phát thải thấp cần tiếng nói của nữ nông dân