![]() |
| Một phụ nữ cao tuổi bán đồ thủ công tại Hà Nội. Ảnh minh họa: Talha Kılıç/Pexels. |
Một doanh nghiệp, hợp tác xã hay hộ kinh doanh tại Hà Nội sử dụng từ 30% tổng số lao động là người cao tuổi, đáp ứng điều kiện về cư trú và hợp đồng lao động tối thiểu một năm, có thể được hưởng lãi suất vay ưu đãi để tạo, duy trì và mở rộng việc làm. Chủ sử dụng lao động còn được hỗ trợ tối đa 50% chi phí mua bảo hiểm tai nạn tự nguyện cho những lao động này.
Đó là hai trong số các cơ chế mới tại Nghị quyết 80/2026/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội, được thông qua ngày 15/7 và có hiệu lực từ 1/8/2026. Văn bản không chỉ đặt vấn đề chăm sóc người cao tuổi mà dành một nhóm chính sách riêng để khuyến khích họ tiếp tục tham gia phát triển kinh tế.
Điểm đáng quan tâm từ góc nhìn giới không nằm ở việc chính sách có ưu tiên riêng phụ nữ hay không. Nghị quyết áp dụng cho cả nữ và nam. Câu hỏi quan trọng hơn là phụ nữ và nam giới bước vào tuổi cao với lịch sử việc làm, thu nhập, bảo hiểm và khả năng tiếp cận thị trường lao động có giống nhau hay không. Nếu điểm xuất phát khác nhau, một cơ chế trung tính về giới vẫn cần được theo dõi bằng dữ liệu tách theo giới để biết ai thực sự nhận được cơ hội.
Từ trợ giúp người cao tuổi sang tạo cơ hội làm việc
Nghị quyết 80 mở ra một cách tiếp cận đáng chú ý: người cao tuổi không chỉ là nhóm cần chăm sóc hay trợ cấp mà còn có thể tiếp tục làm việc, kinh doanh và sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp nếu sức khỏe, năng lực và mong muốn cho phép.
Ngoài ưu đãi vốn đối với cơ sở sử dụng từ 30% lao động cao tuổi trở lên, Hà Nội quy định tổ chức dịch vụ việc làm công thực hiện nhiệm vụ dành cho người cao tuổi có thể được áp dụng đơn giá đặt hàng cao hơn 20% so với mức thông thường. Mục tiêu được nêu rõ là nâng cao hiệu quả kết nối việc làm. Thành phố đồng thời yêu cầu kiểm tra an toàn lao động nhằm ngăn tình trạng sử dụng người cao tuổi làm việc quá sức hoặc trong môi trường độc hại, nguy hiểm.
Đây là điểm cần phân biệt với quan niệm rằng kéo dài thời gian làm việc đồng nghĩa đẩy người cao tuổi tiếp tục lao động vì khó khăn kinh tế. Quyền được tiếp tục làm việc phải đi cùng quyền lựa chọn, điều kiện phù hợp và bảo vệ an toàn. Một người muốn nghỉ ngơi sau nhiều năm lao động không nên bị sức ép phải trở lại thị trường; ngược lại, người còn khả năng và mong muốn đóng góp cũng không nên bị loại khỏi cơ hội chỉ vì tuổi tác.
Nghị quyết còn dành chính sách cho người cao tuổi khởi nghiệp và làm chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh. Trong 5 năm đầu kể từ khi thành lập, các cơ sở do người cao tuổi thành lập được ưu tiên tiếp cận chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp của thành phố. Người cao tuổi tham gia đào tạo về khởi nghiệp, chuyển đổi số và quản trị có thể được hỗ trợ một lần tối đa 50% kinh phí khóa học, nhưng không quá 10 triệu đồng/người/khóa.
![]() |
| Một phụ nữ cao tuổi làm việc tại xưởng sản xuất hương ở Hà Nội. Ảnh minh họa: Pavithra Selvam/Pexels. |
Một quy định chung có thể gặp những điểm xuất phát khác nhau
Dữ liệu thị trường lao động cho thấy việc đánh giá chính sách theo giới là cần thiết, nhưng cũng phải tránh suy diễn quá mức.
Cục Thống kê cho biết trong sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của lao động nam đạt 10,1 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nữ đạt 7,8 triệu đồng. Riêng nhóm làm công hưởng lương, khoảng cách nhỏ hơn: nam 10,5 triệu đồng và nữ 9,5 triệu đồng/tháng. Đây là số liệu của toàn bộ lực lượng lao động, không phải riêng người cao tuổi, nên không thể dùng để khẳng định mức thu nhập của phụ nữ cao tuổi. Tuy nhiên, nó cho thấy khác biệt thu nhập theo giới vẫn tồn tại trong thị trường lao động mà người cao tuổi đang hoặc sẽ tiếp tục tham gia.
Một lát cắt khác đáng chú ý nằm ở lao động tự sản, tự tiêu. Năm 2025, nhóm này có khoảng 3,8 triệu người; phụ nữ chiếm 63,4%. Riêng quý IV/2025, hơn 2,3 triệu người trong nhóm tự sản, tự tiêu ở độ tuổi từ 55 trở lên, tương đương 61,8%. Hai con số này không phải dữ liệu giao nhau, vì cơ quan thống kê không công bố trong nguồn này tỷ lệ phụ nữ từ 55 tuổi trở lên trong nhóm đó. Do vậy, không thể kết luận rằng đa số lao động tự sản, tự tiêu cao tuổi là phụ nữ.
Nhưng khoảng trống dữ liệu ấy lại cho thấy điều mà khâu thực thi Nghị quyết 80 nên tránh: chỉ đếm tổng số người cao tuổi có việc làm rồi coi kết quả đã phản ánh đầy đủ sự tiếp cận của cả hai giới.
UNFPA năm 2026 cho biết khoảng 76% người cao tuổi tại Việt Nam sống không có lương hưu và nguy cơ nghèo cao hơn được ghi nhận đặc biệt ở phụ nữ cao tuổi, người sống tại nông thôn, người dân tộc thiểu số và những người từng làm việc trong khu vực phi chính thức. Những nhóm này có thể không bước vào cơ chế hỗ trợ việc làm với cùng mạng lưới nghề nghiệp, tài sản, kỹ năng số hay khả năng tiếp cận tín dụng như những người đã có lịch sử việc làm chính thức ổn định.
Vì vậy, chính sách việc làm và chính sách an sinh không thay thế nhau. Một người cao tuổi cần trợ cấp vì không còn khả năng lao động là câu chuyện khác với một người muốn tiếp tục làm việc nhưng thiếu cơ hội phù hợp. Chính sách tốt phải có đủ cả hai con đường.
Không chỉ đếm bao nhiêu doanh nghiệp nhận hỗ trợ
Điều kiện sử dụng từ 30% lao động cao tuổi và ký hợp đồng tối thiểu một năm là một chi tiết quan trọng. Nó tạo động lực cho việc làm có quan hệ lao động rõ ràng hơn, thay vì chỉ những công việc ngắn hạn hoặc thỏa thuận miệng.
Nhưng chính điều kiện này cũng cần được theo dõi xem nữ và nam có tiếp cận như nhau hay không. Nếu một bộ phận phụ nữ cao tuổi chủ yếu đi qua khu vực kinh doanh nhỏ, lao động gia đình hoặc những sinh kế khó chuyển thành hợp đồng dài hạn, họ có thể xuất hiện ít hơn trong nhóm được chính sách hỗ trợ thông qua doanh nghiệp. Đây hiện là câu hỏi cần kiểm chứng bằng dữ liệu thực thi, chưa phải kết luận về tác động của Nghị quyết.
Thành phố vì thế có thể theo dõi không chỉ số doanh nghiệp nhận vốn hay tổng số lao động cao tuổi được tuyển, mà cả số lao động nữ và nam, độ tuổi, loại hợp đồng, thời gian duy trì việc làm, mức thu nhập, bảo hiểm và lý do rời việc. Dữ liệu như vậy giúp phân biệt giữa tạo thêm một chỗ làm và tạo được một chỗ làm bền vững.
![]() |
| Phụ nữ cao tuổi bán hàng tại một khu chợ ở Hà Nội. Hoạt động kinh doanh nhỏ vẫn là một trong những sinh kế của nhiều người lớn tuổi. Ảnh minh họa: Vietnam Hidden Light/Pexels. |
Tương tự, khoản hỗ trợ đào tạo khởi nghiệp và chuyển đổi số sẽ có ý nghĩa hơn nếu có thể biết phụ nữ cao tuổi có tiếp cận khóa học hay không, hoàn thành ở mức nào và sau đào tạo có thực sự mở rộng kinh doanh, tiếp cận khách hàng hoặc tăng khả năng tự chủ kinh tế.
Điều này không có nghĩa đặt một tỷ lệ phụ nữ cơ học cho tất cả chương trình. Nếu dữ liệu cho thấy cơ hội đã được tiếp cận tương đối cân bằng, không cần tạo thêm thủ tục. Nhưng nếu xuất hiện khoảng cách lớn, cơ quan thực thi mới có căn cứ để điều chỉnh cách truyền thông, tư vấn, thời gian đào tạo hoặc kênh kết nối việc làm.
Nghị quyết 80 có một điểm tích cực đáng giữ: coi tuổi cao không đồng nghĩa với kết thúc khả năng tham gia kinh tế. Nhưng để nguyên tắc ấy trở thành bình đẳng thực chất, Hà Nội cần biết ai đang bước qua được cánh cửa việc làm mới và ai vẫn đứng ngoài.
Nếu kết quả chỉ dừng ở số cơ sở được vay vốn hay số người cao tuổi được tuyển, chính sách mới phản ánh quy mô. Khi dữ liệu cho biết thêm nữ và nam được tuyển vào công việc nào, có hợp đồng ra sao, được bảo vệ thế nào và có duy trì được thu nhập hay không, thành phố mới có thể đánh giá chất lượng của một chính sách việc làm trong bối cảnh già hóa dân số.




















Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ bớt gánh nặng
PGS.TS. Bùi Thị An: Cần tăng tỷ lệ nữ tham gia hoạch định chính sách và phát huy nguồn lực phụ nữ cao tuổi
Phát động cuộc thi viết “Mô hình kinh tế bạc tiêu biểu và sáng tạo” năm 2026
Cùng chuyên mục
Nghỉ việc trước khi sinh vẫn có thể hưởng thai sản và thất nghiệp
Phụ nữ cao tuổi có dễ tiếp cận chính sách việc làm mới?
Tín dụng xanh cần mở đúng cánh cửa để phụ nữ cùng hưởng lợi
Thông tin bình đẳng giới không còn thuộc phạm vi bí mật nhà nước
Bình đẳng giới nơi công sở: Có nội quy, phải có cơ chế bảo vệ người lên tiếng
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới