![]() |
| Người dân tham gia một hoạt động văn hóa tại Hà Nội. Ảnh minh họa: Nghĩa Văn/Pexels. |
Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. Trong mục tiêu về văn hóa, nghị quyết không chỉ đặt vấn đề nâng cao đời sống tinh thần và khả năng tiếp cận của người dân mà còn nêu rõ yêu cầu thu hẹp chênh lệch trong thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, các tầng lớp dân cư và giới tính.
Hai chữ “giới tính” trong một chương trình văn hóa có ý nghĩa lớn hơn vẻ bề ngoài. Bảo tàng mở cửa cho mọi người, thư viện không phân biệt nam nữ, lễ hội hay trung tâm văn hóa cũng hiếm khi quy định ai được vào dựa trên giới tính. Nhưng một dịch vụ mở cửa bình đẳng về hình thức chưa chắc tạo ra khả năng sử dụng bình đẳng trong thực tế.
Người có thời gian rảnh, phương tiện đi lại thuận tiện, đủ tiền cho những chi phí phát sinh và không phải liên tục chăm sóc người khác sẽ dễ tham gia một hoạt động văn hóa hơn người không có các điều kiện ấy. Chính vì vậy, bước khó của Nghị quyết 46 không phải chỉ xây thêm thiết chế hay tổ chức thêm sự kiện, mà là xác định ai thực sự có thể thụ hưởng chúng.
Mở cửa cho tất cả chưa chắc mọi người đều đến được
Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% chính quyền địa phương hai cấp có thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân và 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Văn bản cũng yêu cầu bảo đảm quyền thụ hưởng, sáng tạo và tiếp cận bình đẳng văn hóa, đồng thời phát triển thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn và lớp học nghệ thuật trực tuyến với chi phí thấp hoặc miễn phí.
Hạ tầng là điều kiện cần. Nhưng một trung tâm văn hóa tồn tại ở địa phương chưa trả lời được phụ nữ và nam giới có sử dụng nó với cơ hội tương đương hay không.
Một dữ liệu đáng để chính sách lưu ý đến từ báo cáo Time Use and Social Inequality – A Gendered Perspective do UN Women công bố tháng 3/2026. Báo cáo sử dụng dữ liệu điều tra sử dụng thời gian được chuẩn hóa của 10 quốc gia, trong đó dữ liệu Việt Nam là năm 2022 với 6.001 nhật ký thời gian của người từ 15 tuổi trở lên.
Ở Việt Nam, phụ nữ dành trung bình 154 phút mỗi ngày cho việc nhà không lương và 78 phút cho chăm sóc không lương, tổng cộng 232 phút. Nam giới tương ứng là 50 và 22 phút, tổng cộng 72 phút. Khoảng cách là 160 phút, tức 2 giờ 40 phút mỗi ngày. Trong cùng bảng dữ liệu, thời gian được xếp vào nhóm “giải trí” trung bình của phụ nữ là 105 phút, còn nam giới là 152 phút.
Con số này không chứng minh phụ nữ Việt Nam đi bảo tàng, xem biểu diễn hay đọc sách ít hơn nam giới, bởi “giải trí” trong điều tra sử dụng thời gian là một nhóm hoạt động rộng hơn nhiều so với thụ hưởng văn hóa. Nhưng nó cho thấy quỹ thời gian không được phân bổ giống nhau giữa hai giới và vì thế cần trở thành một biến số khi đánh giá khả năng tiếp cận văn hóa.
Khoảng cách ấy cũng nối trực tiếp với câu chuyện lao động chăm sóc không lương đã được Phụ Nữ Mới phân tích: khi một nhóm phải dành nhiều thời gian hơn cho việc nhà và chăm sóc, những hoạt động không bắt buộc như nghỉ ngơi, học tập hay tham gia đời sống cộng đồng dễ phải nhường chỗ trước.
![]() |
| Hoạt động biểu diễn văn hóa truyền thống tại Việt Nam. Ảnh minh họa: Nguyen Ngoc Tien/Pexels. |
Quỹ thời gian cũng phải được tính vào thiết kế chính sách
Nếu một nhà văn hóa chỉ tổ chức lớp học vào đầu buổi tối, một phụ nữ đang phải chuẩn bị bữa ăn và chăm con có thể khó tham gia. Nhưng một nam công nhân làm ca tối cũng gặp cùng rào cản. Nếu triển lãm chỉ mở trong giờ hành chính, cả những phụ nữ và nam giới làm việc toàn thời gian đều có thể bị loại khỏi nhóm thụ hưởng.
Đó là lý do góc nhìn giới không nên dẫn tới công thức đơn giản rằng “cần ưu tiên phụ nữ”. Điều cần thiết là xác định những rào cản đang phân bố khác nhau giữa các nhóm, sau đó điều chỉnh cách cung cấp dịch vụ.
Các thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa và chương trình cộng đồng có thể thử nghiệm nhiều khung giờ hơn thay vì duy trì một lịch hoạt động duy nhất; tổ chức một phần chương trình vào cuối tuần; đưa hoạt động tới khu dân cư; thiết kế sự kiện phù hợp với gia đình có trẻ nhỏ; cung cấp thông tin lịch trình sớm để người tham gia chủ động sắp xếp công việc chăm sóc.
Không gian văn hóa cũng phải được nhìn như một phần của không gian công cộng. Một sự kiện kết thúc muộn nhưng đường về thiếu ánh sáng, giao thông công cộng thưa chuyến hoặc nhà vệ sinh không thuận tiện có thể tạo ra chi phí tiếp cận rất khác nhau giữa các nhóm người. Câu chuyện khả năng sử dụng không gian công cộng vì thế không tách rời chính sách thụ hưởng văn hóa.
Chuyển đổi số có thể mở thêm một cánh cửa. Nghị quyết 80 định hướng nền tảng văn hóa số toàn dân với thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn và lớp nghệ thuật trực tuyến miễn phí hoặc chi phí thấp. Đây là giải pháp hữu ích cho người ở xa thiết chế văn hóa hoặc khó sắp xếp thời gian di chuyển. Tuy nhiên, dịch vụ số cũng không tự động công bằng nếu người sử dụng thiếu thiết bị, kỹ năng số hay thời gian riêng để tiếp cận.
Phải đo người tham gia chứ không chỉ đếm công trình
Khoảng trống lớn nhất có thể xuất hiện ở khâu đánh giá. Một trung tâm văn hóa được xây xong là kết quả dễ đếm. Một lễ hội có hàng nghìn lượt khách cũng dễ báo cáo. Khó hơn là biết trong số người được phục vụ có bao nhiêu phụ nữ, bao nhiêu nam giới, họ thuộc nhóm tuổi nào, sống cách thiết chế bao xa, tham gia một lần hay thường xuyên và nhóm nào gần như vắng mặt.
UNESCO đã đưa bình đẳng giới thành nội dung xuyên suốt trong bộ chỉ số Culture|2030 và yêu cầu thu thập dữ liệu phân tách theo giới tính ở mức tối đa có thể trong các chiều đo của khung chỉ số. Mục đích không phải tạo ra một bảng thành tích nam - nữ, mà cung cấp bằng chứng để chính sách biết đang tiếp cận được ai.
![]() |
| Người dân tham gia một sự kiện ngoài trời tại Hà Nội. Ảnh minh họa: Hồng Quang Official/Pexels. |
Khi triển khai Nghị quyết 46, bên cạnh số thiết chế, số sự kiện và số lượt người tham dự, có thể bổ sung những chỉ số phản ánh chất lượng tiếp cận: tỷ lệ nữ và nam tham gia; tần suất quay lại; thời gian di chuyển; khung giờ thuận tiện; mức chi phí mà người dân có thể chấp nhận; lý do không tham gia; mức độ hài lòng và khả năng tiếp cận với người đang mang trách nhiệm chăm sóc.
Không nhất thiết mọi hoạt động đều phải đạt tỷ lệ 50–50. Một lớp nghệ thuật, môn thể thao hay loại hình sinh hoạt cộng đồng có thể có sự khác biệt về sở thích. Cân bằng giới cơ học thậm chí có thể tạo ra một mục tiêu sai.
Điều cần phát hiện là sự vắng mặt có xuất phát từ rào cản có thể tháo gỡ hay không. Nếu một nhóm ít tham gia vì lịch hoạt động trùng với thời gian chăm sóc gia đình, đó là thông tin để thay đổi lịch. Nếu do khoảng cách và giao thông, chính sách phải nhìn tới vị trí thiết chế. Nếu nguyên nhân là nội dung không đáp ứng nhu cầu, người sử dụng cần được tham gia vào quá trình thiết kế chương trình.
Nghị quyết 80 đặt mục tiêu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa. Khi nguồn lực công dành cho lĩnh vực này tăng lên, câu hỏi không chỉ là chi bao nhiêu mà còn là ai thực sự hưởng lợi từ chi tiêu công.
Chính sách văn hóa nhìn từ giới vì vậy không phải tạo ra một khu vực riêng cho phụ nữ hay một chương trình riêng cho nam giới. Nó đòi hỏi cách thiết kế đủ linh hoạt để những khác biệt về thời gian, trách nhiệm gia đình, thu nhập, di chuyển và mức độ an toàn không âm thầm quyết định ai được bước vào đời sống văn hóa.
Nghị quyết 46 đã đưa “giới tính” vào chính mục tiêu thu hẹp chênh lệch thụ hưởng. Phần khó còn lại là biến hai chữ ấy thành dữ liệu, tiêu chí đánh giá và những điều chỉnh cụ thể trong từng thiết chế. Khi đó, thành công của một chính sách văn hóa mới không chỉ được nhìn bằng số công trình đã xây hay số sự kiện đã tổ chức, mà còn bằng câu hỏi căn bản hơn: những người nào thực sự có cơ hội sử dụng chúng?
Một ngày ở Việt Nam qua dữ liệu sử dụng thời gian
Theo báo cáo UN Women công bố năm 2026, sử dụng dữ liệu Việt Nam năm 2022:
- Phụ nữ: 154 phút việc nhà không lương + 78 phút chăm sóc không lương = 232 phút/ngày.
- Nam giới: 50 phút việc nhà không lương + 22 phút chăm sóc không lương = 72 phút/ngày.
- Khoảng cách: 160 phút/ngày, tương đương 2 giờ 40 phút.
- Thời gian thuộc nhóm “giải trí”: nữ 105 phút, nam 152 phút/ngày.
Lưu ý: “Giải trí” là nhóm thời gian rộng, không đồng nghĩa với tham gia văn hóa. Dữ liệu này chỉ cho thấy quỹ thời gian là yếu tố cần được đưa vào phân tích chính sách, không thể dùng để kết luận phụ nữ tham gia hoạt động văn hóa ít hơn nam giới.
Nguồn: UN Women, Time Use and Social Inequality – A Gendered Perspective, 2026.




















Lao động chăm sóc không lương: Gánh nặng vô hình của phụ nữ
Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Nhà vệ sinh công cộng phải thuận tiện và an toàn cho phụ nữ
Đi bảo tàng dịp 2/9, trẻ em có cơ hội tìm hiểu về những nhân vật lịch sử nào?
Cùng chuyên mục
Bình đẳng giới nơi công sở: Có nội quy, phải có cơ chế bảo vệ người lên tiếng
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới
Nam giới vẫn là nguồn lực bỏ ngỏ khi mầm non thiếu giáo viên
6 ngày sau Độc lập, phụ nữ đã có quyền bầu cử và học chữ
Quốc khánh nhìn từ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của nam, nữ
Hỗ trợ sinh con cần đến đúng người ngay khi đăng ký khai sinh