![]() |
| Cử tri thực hiện quyền công dân trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946. Ảnh tư liệu/Báo Điện tử Chính phủ. |
Sáu ngày là một khoảng thời gian rất ngắn đối với một nhà nước vừa ra đời.
Ngày 2/9/1945, Tuyên ngôn Độc lập được đọc tại Quảng trường Ba Đình. Ngày hôm sau, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, những nhiệm vụ cấp bách của quốc gia mới đã được đặt lên bàn: chống đói, chống dốt, xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ và tổ chức Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu.
Đến ngày 8/9, những định hướng ấy bắt đầu chuyển rất nhanh thành chính sách. Một sắc lệnh mở đường cho người dân lựa chọn cơ quan đại diện của mình. Một nhóm sắc lệnh khác tổ chức cuộc chiến chống mù chữ trên phạm vi cả nước.
Đặt chúng cạnh nhau, ngày 8/9/1945 cho thấy một cách hiểu rất cụ thể về độc lập: người dân không chỉ thoát khỏi thân phận thuộc địa mà còn phải có quyền tham gia việc nước và khả năng tiếp cận tri thức để thực hành quyền làm chủ.
Với phụ nữ Việt Nam, đây là một bước chuyển đặc biệt. Phụ Nữ Mới từng nhìn lại hành trình bình đẳng dân tộc và bình đẳng giới từ ngày Độc lập đến những quy định bình đẳng trong các bản Hiến pháp. Bài viết này đi sâu hơn vào một lát cắt ít được chú ý: hai cánh cửa được mở gần như đồng thời chỉ sáu ngày sau ngày lập quốc.
Lá phiếu được xác lập trước cả bản Hiến pháp đầu tiên
Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945 quyết định tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội. Điều đáng chú ý nằm ngay trong nguyên tắc cử tri: công dân Việt Nam “cả trai và gái”, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những trường hợp bị pháp luật loại trừ theo quy định lúc đó.
Quyền ấy được xác lập khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới tồn tại chưa đầy một tuần và trước khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua.
Ở góc nhìn giới, trình tự này đáng chú ý. Phụ nữ không phải chờ một quá trình sửa đổi pháp luật kéo dài rồi mới được bổ sung vào cộng đồng cử tri. Ngay trong thiết kế cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, giới tính không được dùng làm điều kiện loại họ khỏi quyền bầu và quyền ứng cử.
Điều đó càng có ý nghĩa nếu đặt trong bối cảnh quốc tế. Dữ liệu của Liên minh Nghị viện thế giới ghi nhận quyền bầu cử và ứng cử phổ thông của phụ nữ Việt Nam được thực thi từ năm 1946, trong một giai đoạn mà quyền bầu cử của phụ nữ trên thế giới vẫn đang tiếp tục được mở rộng; chẳng hạn Pháp mới trao quyền bầu cử cho phụ nữ năm 1944, còn một số quốc gia châu Âu phải nhiều thập niên sau mới hoàn tất quá trình này.
Nhưng có quyền trong sắc lệnh chưa phải toàn bộ câu chuyện. Ngày 26/9/1945, Sắc lệnh số 39 thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử gồm chín thành viên. Trong danh sách có bà Tám Kinh, đại biểu của Phụ nữ cứu quốc. Sự hiện diện đó đáng chú ý bởi phụ nữ không chỉ xuất hiện với tư cách người đi bỏ phiếu mà đã có đại diện tham gia vào quá trình chuẩn bị thể lệ cuộc bầu cử.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 sau đó có khoảng 89% cử tri tham gia và bầu 333 đại biểu, trong đó có 10 đại biểu nữ. Con số 10 cho thấy một thực tế cần nhìn thẳng: bình đẳng về quyền chính trị đã được thiết lập rất sớm, nhưng đại diện nữ trong cơ quan dân cử khi đó vẫn còn khiêm tốn. Đây chính là khác biệt giữa quyền bình đẳng và khả năng thực sự sử dụng quyền ấy.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp Bình dân học vụ. Ảnh tư liệu/Báo Điện tử Chính phủ. |
Có lá phiếu nhưng cũng cần con chữ
Cũng trong ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành các Sắc lệnh số 17, 19 và 20 liên quan đến Bình dân học vụ. Sắc lệnh số 17 đặt ra hệ thống Bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19 yêu cầu thiết lập các lớp học bình dân buổi tối cho nông dân, thợ thuyền; còn Sắc lệnh số 20 quy định học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền, với mục tiêu người dân từ tám tuổi trở lên biết đọc, biết viết. Đây là chính sách toàn dân, không phải chương trình riêng cho phụ nữ.
Nhưng một chính sách phổ quát có thể mang lại giá trị đặc biệt cho nhóm từng có điểm xuất phát thấp hơn. Theo tài liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, vào năm học 1941-1942, nữ sinh chỉ chiếm khoảng 13% học sinh trong trường học; khi đất nước giành độc lập, phụ nữ và trẻ em gái nằm trong nhóm chịu ảnh hưởng nặng của tình trạng mù chữ.
Bởi vậy, việc mở lớp buổi tối, miễn chi phí học chữ và đưa lớp học đến tận cộng đồng không chỉ tăng số người biết đọc. Nó còn làm giảm những rào cản rất thực tế đối với những phụ nữ vốn khó bước vào hệ thống trường học chính quy.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận phong trào sau đó xuất hiện ở rất nhiều không gian và với nhiều nhóm xã hội: công nhân, người lao động, người cao tuổi, phụ nữ các vùng dân tộc thiểu số, thậm chí có những phụ nữ đang nuôi con nhỏ vẫn tham gia lớp học.
Sau một năm, gần 75.000 lớp Bình dân học vụ đã được tổ chức và hơn 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. Con số ấy không được tách theo giới trong nguồn này, vì vậy không thể nói bao nhiêu trong số 2,5 triệu người là phụ nữ. Nhưng chính sách đã tạo ra một hạ tầng giáo dục đại chúng mà phụ nữ cũng có thể bước vào. Đó là phần đáng chú ý nhất dưới góc độ chính sách giới.
Biết chữ không phải điều kiện để có quyền bầu cử
Có một ranh giới cần nói rõ. Sắc lệnh Tổng tuyển cử không yêu cầu cử tri phải biết chữ mới có quyền bỏ phiếu. Vì vậy, không nên viết rằng Bình dân học vụ là điều kiện pháp lý để phụ nữ trở thành cử tri.
Hai chính sách hoạt động theo hai cơ chế khác nhau. Sắc lệnh bầu cử xác lập quyền công dân. Bình dân học vụ mở rộng năng lực của công dân.
Một người không biết chữ vẫn có quyền chính trị. Nhưng khi biết đọc, biết viết, họ có thêm khả năng tiếp cận thông tin, đọc văn bản, ghi chép, tham gia tổ chức xã hội, xử lý các giấy tờ và tự mình bước sâu hơn vào đời sống công cộng.
Chính vì vậy, đặt lá phiếu và con chữ cạnh nhau không phải để tạo một hình ảnh đẹp cho bài báo. Hai chính sách cho thấy hai lớp của quyền làm chủ: pháp luật phải công nhận quyền, nhưng xã hội cũng cần tạo điều kiện để người dân có năng lực sử dụng quyền ấy.
Điều này đặc biệt quan trọng với phụ nữ bởi những rào cản bình đẳng không chỉ nằm trong văn bản pháp luật mà còn nằm ở giáo dục, kinh tế, trách nhiệm gia đình và những định kiến xã hội lâu dài.
Phụ Nữ Mới từng phân tích quyền của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó Hiến pháp năm 1946 tiếp tục xác lập nguyên tắc “đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”.
![]() |
| Phụ nữ phường Ngọc Hồi, Hà Nội thực hiện quyền bầu cử năm 2026. Ảnh: VGP/Gia Huy. |
81 năm sau, bài toán vẫn là biến quyền thành khả năng
Tháng 3/2026, phụ nữ trên cả nước tiếp tục thực hiện quyền bầu cử trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp. Hình ảnh những nhóm phụ nữ cầm lá phiếu tại Hà Nội cho thấy một quyền từng được ghi bằng vài dòng trong sắc lệnh năm 1945 đã trở thành một phần bình thường của đời sống công dân.
Trong giáo dục cũng xuất hiện một sự tiếp nối thú vị. Tám thập niên sau Bình dân học vụ, Việt Nam đang triển khai “Bình dân học vụ số”. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát động chương trình riêng nhằm giúp phụ nữ tiếp cận kỹ năng số, công nghệ và dịch vụ trong môi trường số.
Không nên coi hai phong trào cách nhau hơn 80 năm là hoàn toàn giống nhau. Năm 1945, thách thức là đọc và viết chữ Quốc ngữ. Năm 2026, vấn đề có thể là dùng dịch vụ công trực tuyến, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận biết lừa đảo hoặc sử dụng công nghệ để làm việc và kinh doanh.
Nhưng nguyên lý chính sách lại khá gần: một quyền chỉ phát huy đầy đủ khi người dân có năng lực tiếp cận những công cụ cần thiết để thực hiện quyền ấy. Đó cũng là bài học đáng giữ lại từ ngày Quốc khánh.
Độc lập không dừng ở việc một quốc gia có chủ quyền. Với từng con người, nó còn phải được cụ thể hóa thành quyền được tham gia, quyền được học, khả năng tự quyết và cơ hội đóng góp. Ngày 8/9/1945 cho thấy quá trình ấy bắt đầu rất sớm.
Chỉ sáu ngày sau ngày Độc lập, phụ nữ Việt Nam đã được gọi tên trong cộng đồng cử tri bằng hai chữ rất rõ: “cả gái”. Cùng ngày, một hệ thống học chữ miễn phí được mở ra cho toàn dân.
Hai quyết sách không xóa ngay mọi bất bình đẳng. Nhưng chúng đã đặt hai viên gạch quan trọng cho vị thế người phụ nữ trong nước Việt Nam mới: được tham gia quyết định việc nước và được tiếp cận tri thức để làm chủ cuộc đời mình.
Sáu tháng đầu của nước Việt Nam mới
- 2/9/1945: Tuyên ngôn Độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
- 3/9/1945: Phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ đặt chống nạn mù chữ và tổ chức Tổng tuyển cử vào nhóm nhiệm vụ cấp bách.
- 8/9/1945: Sắc lệnh số 14 mở đường cho Tổng tuyển cử, xác lập quyền bầu cử và ứng cử của công dân nam, nữ từ 18 tuổi. Cùng ngày, các Sắc lệnh 17, 19, 20 triển khai Bình dân học vụ và việc học chữ Quốc ngữ miễn phí.
- 26/9/1945: thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử, có bà Tám Kinh đại diện Phụ nữ cứu quốc.
- 6/1/1946: Tổng tuyển cử đầu tiên; 333 đại biểu được bầu, trong đó có 10 phụ nữ.
- 9/11/1946: Hiến pháp đầu tiên được thông qua, xác lập nguyên tắc bình đẳng không phân biệt gái trai và quy định phụ nữ ngang quyền đàn ông.




















Hành trình bình đẳng dân tộc và bình đẳng giới
Tìm hiểu về quyền của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam hướng tới kỷ nguyên số với "Bình dân học vụ số"
GS. Lê Thi: Nhà khoa học mở đường cho nghiên cứu giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Bình đẳng giới nơi công sở: Có nội quy, phải có cơ chế bảo vệ người lên tiếng
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới
Nam giới vẫn là nguồn lực bỏ ngỏ khi mầm non thiếu giáo viên
6 ngày sau Độc lập, phụ nữ đã có quyền bầu cử và học chữ
Quốc khánh nhìn từ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của nam, nữ
Hỗ trợ sinh con cần đến đúng người ngay khi đăng ký khai sinh