![]() |
| Nam giáo viên làm việc cùng trẻ nhỏ trong lớp học. Ảnh minh họa, không phải lớp học tại Việt Nam. Ảnh: Anastasia Shuraeva/Pexels. |
Năm học 2025-2026, Việt Nam có khoảng 372.000 giáo viên mầm non phục vụ 4,85 triệu trẻ tại 14.820 trường. Quy mô đội ngũ lớn, nhưng bài toán nhân lực chưa khép lại. Trước đó, Chính phủ cho biết hệ thống mầm non và phổ thông công lập còn thiếu hơn 120.000 giáo viên; riêng số giáo viên mầm non thiếu trong năm học 2024-2025 tăng thêm khoảng 6.000 người so với năm trước.
Trong lúc ngành cần mở rộng nguồn tuyển, nam giới lại rất hiếm ở đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo. Năm 2025, trong 250 tân sinh viên ngành Giáo dục mầm non tại cơ sở chính của Trường Đại học Sư phạm TP.HCM chỉ có một nam sinh. Tháng 6/2026, một sinh viên nam duy nhất cũng được ghi nhận tại khoa Giáo dục mầm non của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Hai ví dụ này không thể dùng để suy ra tỷ lệ nam giáo viên mầm non của cả nước. Nhưng chúng đủ gợi ra một câu hỏi chính sách: khi giáo dục mầm non đang cần thêm người, tại sao nguồn nhân lực nam vẫn gần như bị bỏ ngỏ?
![]() |
| Một lớp học tại TP.HCM. Ảnh dùng để minh họa bối cảnh giáo dục tại Việt Nam, không phải nhóm sinh viên hay giáo viên được nêu trong bài. Ảnh: Teacher Ray You - Get It!/Pexels. |
Một nguồn tuyển đang bị bỏ quên
Luật Bình đẳng giới quy định nam và nữ bình đẳng trong lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo. Luật cũng coi giáo dục hướng nghiệp có định kiến giới là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Trên giấy tờ, không có lý do để một nam sinh đủ điều kiện chuyên môn bị ngăn cản học hay làm giáo viên mầm non.
Rào cản nằm ở tầng khác. Nghề mầm non gắn với chăm sóc, kiên nhẫn, cho trẻ ăn, ngủ, vệ sinh, chơi và học. Những công việc ấy lâu nay thường được gán cho phụ nữ. Khi một cậu bé lớn lên trong thông điệp rằng chăm trẻ là “việc của phụ nữ”, mầm non có thể bị loại khỏi danh sách lựa chọn trước cả khi năng lực và sở thích được xem xét.
Đây không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. OECD cho biết phụ nữ chiếm 96% giáo viên bậc tiền tiểu học ở các nước có dữ liệu trong Education at a Glance 2023. Báo cáo năm 2024 cũng lưu ý việc thiếu ứng viên nam có thể làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu giáo viên. Dữ liệu quốc tế không thay cho số liệu Việt Nam, nhưng cho thấy phân công nghề nghiệp theo giới trong giáo dục sớm là vấn đề có tính hệ thống.
Điểm cần tránh là giải thích sự vắng bóng của nam giới bằng những khác biệt “tự nhiên”. Một người đàn ông không mặc nhiên giỏi vận động, kỷ luật hay công nghệ hơn; một phụ nữ cũng không tự nhiên chăm trẻ tốt hơn chỉ vì giới tính. Nếu đưa nam giới vào mầm non rồi giao cho họ toàn việc thể chất, hệ thống chỉ thay một khuôn mẫu bằng khuôn mẫu khác.
Bình đẳng không phải tuyển nam bằng mọi giá
Nghị định 277/2025/NĐ-CP về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi yêu cầu bảo đảm đủ giáo viên theo định mức. Giáo viên được tuyển mới từ năm học 2025-2026, thực hiện nhiệm vụ phổ cập và cam kết công tác ít nhất 5 năm tại cơ sở công lập được tuyển dụng, có thể nhận hỗ trợ tối thiểu bằng một năm tiền lương cơ sở.
Tuy nhiên, một chính sách tuyển dụng trung tính về giới chưa chắc tự động tạo ra nguồn ứng viên đa dạng nếu khâu hướng nghiệp trước đó đã phân luồng nam và nữ theo khuôn mẫu. Khi rất ít nam sinh nghĩ đến ngành mầm non, thêm chỉ tiêu hay biên chế cũng khó thay đổi cơ cấu đầu vào.
Điều đó không có nghĩa cần đặt mục tiêu cơ học rằng mỗi trường phải có một tỷ lệ nam giáo viên nhất định. Cũng không nên hạ tiêu chuẩn chuyên môn hay ưu tiên một ứng viên chỉ vì họ là nam. Trẻ nhỏ cần người chăm sóc, giáo dục có năng lực, đạo đức nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu bảo vệ trẻ em; tiêu chuẩn này phải áp dụng như nhau cho mọi giới.
Lý do hợp lý hơn để thu hút nam giới là mở rộng quyền lựa chọn nghề nghiệp và nguồn nhân lực. Một ngành đang thiếu người không nên tự thu hẹp thị trường lao động bằng định kiến rằng chỉ một giới “hợp nghề”. OECD cũng lưu ý chỉ có thêm giáo viên nam không tự động xóa định kiến giới; điều quan trọng là cách người lớn thực hiện vai trò trong lớp học. Đây cũng là chiều ngược lại của câu chuyện nam giới bước vào các nghề chăm sóc, thay vì mặc định những công việc này thuộc về phụ nữ.
![]() |
| Giáo viên cùng trẻ tham gia hoạt động tại lớp mầm non. Ảnh minh họa, không phải bối cảnh Việt Nam. Ảnh: Pavel Danilyuk/Pexels. |
Muốn có thêm nam giới phải làm nghề đáng chọn hơn
Bài toán không thể giải bằng một chiến dịch truyền thông kiểu “thầy giáo mầm non cũng rất thú vị”. Nếu nghề vẫn bị nhìn nhận là áp lực cao, thời gian làm việc kéo dài và thu nhập chưa tương xứng, việc thuyết phục nam giới bước vào nghề sẽ khó, còn giữ chân phụ nữ hiện có cũng không dễ. Các phản ánh chính sách trước đây đã ghi nhận đặc thù giáo viên mầm non có thể làm việc thực tế 9-10 giờ mỗi ngày và những băn khoăn về mức thu nhập so với cường độ công việc.
Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 quy định chế độ tiền lương, phụ cấp và chính sách cao hơn đối với nhà giáo mầm non. Nghị định 277 bổ sung hỗ trợ tuyển dụng giáo viên mới tham gia phổ cập. Những chính sách này nên được đánh giá không chỉ bằng số người tuyển được mà còn bằng khả năng giữ họ ở lại nghề.
Một lớp dữ liệu giới cũng cần được bổ sung. Cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo có thể theo dõi số thí sinh nam, nữ đăng ký ngành; tỷ lệ trúng tuyển, bỏ học, tốt nghiệp, được tuyển dụng và rời nghề; vị trí quản lý và mức thu nhập. Khi đó mới biết nam giới “biến mất” ở khâu hướng nghiệp, đào tạo, tuyển dụng hay giữ chân.
Các trường sư phạm có thể đưa hình ảnh giáo viên mầm non nam vào hoạt động hướng nghiệp, tổ chức trải nghiệm nghề cho học sinh cả hai giới và kể câu chuyện nghề dựa trên năng lực thay vì khuôn mẫu. Nếu có học bổng hay chương trình thu hút giới đang ít hiện diện, tiêu chí phải minh bạch, có thời hạn và không làm suy giảm chuẩn đầu vào.
Ở trường mầm non, phân công công việc cũng phải tránh tái tạo định kiến. Nam giáo viên cần được tham gia đầy đủ các nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục theo chuyên môn; nữ giáo viên cũng không nên mặc định gánh phần việc nuôi dưỡng chỉ vì là phụ nữ. Cơ chế bảo vệ trẻ, giám sát nghề nghiệp và quy tắc ứng xử phải chặt chẽ cho tất cả nhân sự.
Bình đẳng giới thường được nhắc tới khi cần đưa thêm phụ nữ vào STEM, lãnh đạo hay những ngành vốn đông nam giới. Chiều ngược lại cũng quan trọng: nam giới phải có quyền bước vào giáo dục, chăm sóc và những nghề lâu nay bị gắn nhãn “của phụ nữ”. Việc đưa bình đẳng giới vào giảng dạy STEM từ các trường sư phạm là một hướng đã được triển khai. Xa hơn, hướng nghiệp không định kiến cũng cần hiện diện ở chính những ngành vốn gần như toàn nữ.
Với giáo dục mầm non, đây không chỉ là câu chuyện biểu tượng. Khi Nhà nước đang cần tuyển và giữ thêm giáo viên để mở rộng phổ cập, phá bỏ một rào cản nghề nghiệp vô hình cũng đồng nghĩa mở rộng nguồn nhân lực. Mục tiêu không phải cân bằng nam - nữ bằng con số, mà để giới tính không còn quyết định trước ai được xem là “hợp” với công việc chăm sóc và giáo dục trẻ.




















Mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ bớt gánh nặng
Phân công theo giới tạo hai lớp rủi ro trong lao động thủy sản
Đưa bình đẳng giới vào giảng dạy STEM từ các trường sư phạm
Từ năm 2026, giáo viên mầm non có thêm lựa chọn nghỉ hưu sớm
Cùng chuyên mục
Bình đẳng giới nơi công sở: Có nội quy, phải có cơ chế bảo vệ người lên tiếng
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới
Nam giới vẫn là nguồn lực bỏ ngỏ khi mầm non thiếu giáo viên
6 ngày sau Độc lập, phụ nữ đã có quyền bầu cử và học chữ
Quốc khánh nhìn từ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của nam, nữ
Hỗ trợ sinh con cần đến đúng người ngay khi đăng ký khai sinh