![]() |
| Hoạt động chế biến thủy sản tại Cà Mau. Ảnh minh họa bối cảnh ngành trong nước, không phải lao động tham gia khảo sát ILO. Ảnh: Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Cà Mau. |
Một người đi biển nhiều tháng, một người đứng hàng giờ trong nhà máy chế biến. Họ có thể cùng thuộc chuỗi cung ứng thủy sản và cùng rời Việt Nam để làm việc ở nước ngoài, nhưng những nguy cơ phải đối mặt không giống nhau.
Báo cáo Towards fair seas được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố ngày 24/2/2026 cung cấp một lát cắt đáng chú ý. Nghiên cứu khảo sát 1.262 lao động hồi hương tại Campuchia, Indonesia, Myanmar và Việt Nam trong giai đoạn tháng 5–7/2022, trong đó có 434 phụ nữ. Mẫu Việt Nam gồm 301 người, 148 người là phụ nữ, được khảo sát tại Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Ngãi.
Khoảng cách bốn năm giữa thời điểm thu thập dữ liệu và ngày báo cáo được công bố cần được nói rõ. ILO cũng lưu ý nghiên cứu không có tính đại diện thống kê cho toàn bộ lao động di cư của từng quốc gia và không nên ngoại suy thành tỷ lệ chung. Giá trị của bộ dữ liệu nằm ở khả năng so sánh những nhóm lao động khác nhau theo giới, ngành nghề, điểm đến và tình trạng di cư.
Cùng đi làm xa nhưng không đi vào cùng một công việc
Trong 301 người Việt Nam được khảo sát, 151 người từng làm nghề đánh bắt trên biển và 150 người làm chế biến thủy sản. Sự phân tách theo giới gần như tuyệt đối: toàn bộ 151 người thuộc nhóm đánh bắt là nam giới, trong khi phụ nữ chiếm 99% nhóm chế biến. Đây không phải tỷ lệ đại diện cho toàn bộ lao động Việt Nam trong hai ngành, nhưng cho thấy rất rõ sự phân tầng nghề nghiệp trong chính mẫu nghiên cứu.
Hiện tượng này cũng xuất hiện trong bức tranh khu vực mà ILO mô tả: công việc trên tàu cá hầu như do nam giới đảm nhiệm, còn phụ nữ chiếm đa số tại nhiều nhà máy chế biến thủy sản. Phía sau sự phân công tưởng như “tự nhiên” ấy là những quan niệm đã tồn tại lâu dài về việc nam giới phù hợp với công việc nặng nhọc, nguy hiểm ngoài biển, trong khi phụ nữ được hướng vào các công việc chế biến đòi hỏi thao tác lặp lại và sự khéo léo.
Điểm cần phản biện là sự phân công đó không chỉ xác định nơi một người làm việc. Nó còn phân phối rủi ro theo giới.
![]() |
| Tàu ĐNa-90444 TS tại Đà Nẵng. Ảnh minh họa môi trường nghề cá trong nước, không phải tàu hay lao động thuộc mẫu khảo sát ILO. Ảnh: VGP/Hồng Hạnh. |
Dữ liệu về gia đình càng cho thấy không nên đóng khung phụ nữ trong vai trò người ở nhà chăm sóc. Trong mẫu Việt Nam, 82% nam giới đi làm nghề cá và 78% phụ nữ làm chế biến thủy sản có con ở lại quê nhà. ILO ghi nhận sự gia tăng của phụ nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong những ngành có nhu cầu lao động nữ cao, trong đó có chế biến thủy sản. Điều đó cũng có nghĩa ngày càng có những người mẹ trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình thông qua di cư lao động.
Ở chiều ngược lại, việc cả cha lẫn mẹ đều có thể là người đi làm xa cho thấy lao động chăm sóc không lương không nên tiếp tục được nhìn như trách nhiệm mặc định của phụ nữ. Chính cách gia đình và chính sách tổ chức việc chăm sóc con có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lựa chọn việc làm của cả hai giới.
Hai ngành nghề tạo ra hai kiểu bất lợi
Nếu chỉ nhìn một bảng số liệu tổng hợp theo giới, người đọc rất dễ đi đến một kết luận sai rằng phụ nữ trong khảo sát có điều kiện làm việc tốt hơn nam giới.
Trong toàn bộ mẫu bốn quốc gia, lao động nghề cá làm trung bình khoảng 14 giờ mỗi ngày, 6,7 ngày mỗi tuần, tương đương khoảng 94 giờ. Lao động chế biến thủy sản làm khoảng 9 giờ mỗi ngày, 6,1 ngày mỗi tuần, tương đương khoảng 58 giờ. Đây là số liệu của toàn bộ mẫu khu vực, không phải riêng lao động Việt Nam.
Chênh lệch còn lớn hơn ở chỉ báo lao động cưỡng bức mà nghiên cứu sử dụng. Trong mẫu khu vực, 20% lao động nghề cá có các dấu hiệu đáp ứng tiêu chí lao động cưỡng bức, so với 0,4% ở nhóm chế biến thủy sản. Tỷ lệ theo giới tương ứng là 19% ở nam và 1% ở nữ. Nhưng chính ILO chỉ ra rằng khoảng cách theo giới này gắn chặt với sự phân tầng nghề nghiệp: nam giới tập trung trên tàu cá, nơi điều kiện cô lập và khả năng thanh tra hạn chế hơn.
Nói cách khác, không thể từ con số 19% và 1% kết luận đơn giản rằng “nam giới bất lợi hơn phụ nữ”. Điều dữ liệu cho thấy là nam giới bị dồn mạnh vào một nhóm nghề có rủi ro đặc biệt cao.
Các chuẩn mực coi việc chịu đựng nguy hiểm là biểu hiện của nam tính cũng có thể làm vấn đề nặng thêm. Trong phần khuyến nghị, ILO cho rằng yêu cầu xã hội đặt lên nam giới phải chịu rủi ro lớn hơn trong công việc có thể góp phần làm tăng tai nạn và khiến họ ngần ngại khiếu nại về hành vi lạm dụng trên tàu.
Phụ nữ lại gặp một cấu trúc bất lợi khác. Nhà máy chế biến nhìn chung chính quy hơn tàu cá và có mức bảo vệ lao động tốt hơn, nhưng ILO vẫn xác định các vấn đề về chênh lệch tiền lương, bảo vệ thai sản, bạo lực và quấy rối cũng như rào cản thăng tiến đối với phụ nữ trong chế biến thủy sản. Trong toàn bộ nhóm lao động chế biến được khảo sát, chỉ 40% cho biết có chế độ nghỉ thai sản được trả lương.
Những vấn đề này có quan hệ trực tiếp với khoảng cách tiền lương và bất lợi nghề nghiệp của phụ nữ: một nơi làm việc có ít nguy cơ cưỡng bức hơn chưa đồng nghĩa với việc cơ hội phát triển, thu nhập và trách nhiệm chăm sóc đã bình đẳng.
![]() |
| Hội nghị tập huấn nghiệp vụ về các chương trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo thỏa thuận quốc tế, tháng 6/2026. Ảnh: VGP/Thu Giang. |
Chỉ số Migrant Work Index của nghiên cứu làm rõ thêm nguy cơ đọc dữ liệu quá nhanh. Điểm trung bình của phụ nữ là 64, cao hơn mức 42 của nam giới; nhóm chế biến thủy sản đạt 63, trong khi nghề cá chỉ đạt 41. ILO lưu ý chính sự phân công nghề nghiệp mang tính giới cao khiến khác biệt giữa hai ngành được phản chiếu gần như tương ứng vào khác biệt giữa nam và nữ.
Đây là bài học quan trọng đối với dữ liệu giới. Nếu bảng thống kê chỉ chia thành “nam” và “nữ”, chúng ta có thể nhìn thấy khoảng cách nhưng chưa biết khoảng cách được tạo ra ở đâu. Dữ liệu cần tiếp tục được tách theo ngành nghề, vị trí việc làm, thị trường đến, loại hợp đồng và tình trạng pháp lý thì chính sách mới xác định đúng nguồn rủi ro.
Chính sách phải theo sát công việc thực tế
Việt Nam đã có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14, có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Đầu năm 2026, một số quy định hướng dẫn tiếp tục được sửa đổi bởi Nghị định 372/2025/NĐ-CP, trong đó bổ sung và số hóa nhiều thủ tục quản lý doanh nghiệp, thị trường và danh sách người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Tháng 6/2026, tại hội nghị về các chương trình đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo thỏa thuận quốc tế, Trung tâm Lao động ngoài nước thuộc Bộ Nội vụ xác định cần xây dựng một chu trình đầy đủ từ cung cấp thông tin, tuyển chọn, đào tạo, bảo vệ quyền lợi khi làm việc ở nước ngoài đến hỗ trợ tái hòa nhập sau khi trở về.
Trục giới có thể được đưa vào chính chu trình này thay vì tạo thêm một chương trình tách biệt.
Với lao động chuẩn bị đi biển, nội dung đào tạo trước xuất cảnh cần nói cụ thể về giờ làm và thời gian nghỉ, an toàn nghề cá, quyền giữ giấy tờ, phương tiện liên lạc khi ở xa bờ, cách tiếp cận cơ quan hỗ trợ và cơ chế khiếu nại. Đặc biệt, việc huấn luyện cần phá bỏ tâm lý coi im lặng, chịu đựng hoặc chấp nhận nguy hiểm là yêu cầu của nghề dành cho nam giới.
Với lao động nữ vào nhà máy chế biến, bộ tiêu chí bảo vệ phải đi sâu hơn chuyện “có việc làm”. Tiền lương, thai sản, phòng chống quấy rối, thời gian làm thêm, dịch vụ chăm sóc trẻ, cơ hội học nghề và thăng tiến đều cần được kiểm tra. An toàn lao động cũng phải tính đến cơ thể và công việc thực tế của người sử dụng, thay vì chỉ xác nhận doanh nghiệp đã cấp đủ trang thiết bị.
Đó cũng là lý do đồ bảo hộ vừa vặn với người lao động phải được xem là một phần của chất lượng việc làm, đặc biệt ở môi trường sản xuất sử dụng đông lao động nữ.
ILO còn đề nghị đào tạo trước khi đi và sau khi đến phải được thiết kế theo từng ngành, từng quốc gia tiếp nhận; gia đình của người di cư cũng nên được tiếp cận thông tin. Với trách nhiệm chăm sóc, báo cáo khuyến nghị mở rộng các giải pháp cho cả lao động nữ và nam, từ bố trí công việc linh hoạt đến hỗ trợ dịch vụ giữ trẻ.
Một mắt xích khác không nên bị bỏ qua là tiếng nói của chính người lao động. Những phụ nữ từng làm việc trong nhà máy chế biến và nam giới từng làm việc trên tàu cá có thể cung cấp dữ liệu mà một bảng kiểm hành chính khó phản ánh: lúc nào họ không dám từ chối làm thêm, vì sao không khiếu nại, thông tin nào hữu ích trước khi xuất cảnh, kỹ năng nào được công nhận khi trở về. ILO cũng khuyến nghị đưa lao động hồi hương tham gia cung cấp thông tin và tăng vai trò trực tiếp của người lao động trong giám sát điều kiện làm việc.
Bình đẳng giới trong lao động thủy sản vì thế không phải là cố làm cho số phụ nữ trên tàu cá và số nam giới trong nhà máy trở nên bằng nhau bằng mệnh lệnh hành chính. Mục tiêu thực chất hơn là để một người không bị định kiến giới quyết định trước công việc nào “thuộc về mình”; và dù họ chọn làm việc ngoài biển hay trong nhà máy, hệ thống bảo vệ phải nhận diện đúng loại rủi ro mà công việc đó tạo ra.
Một chính sách giới tốt không trao cho mọi người cùng một chiếc áo bảo hộ. Nó phải bảo đảm mỗi người nhận được sự bảo vệ phù hợp với công việc, cơ thể, trách nhiệm gia đình và quyền lựa chọn nghề nghiệp của chính họ.



















Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn
Khoảng cách tiền lương đẩy phụ nữ vào bất lợi nghề nghiệp
Doanh nghiệp thời kỷ nguyên mới thành công bắt đầu từ bình đẳng giới thực chất
Lao động chăm sóc không lương: Gánh nặng vô hình của phụ nữ
Cùng chuyên mục
Khoảng cách đọc hiểu của nam sinh cũng là bài toán giới
Bước tiến của nhà khoa học nữ trong thương mại hóa sáng chế
Phân công theo giới tạo hai lớp rủi ro trong lao động thủy sản
Văn phòng quá lạnh có thể khiến phụ nữ bất tiện hơn mỗi ngày
Cảnh báo thiên tai cần tính đến cách phụ nữ nhận thông tin
Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn