![]() |
| Người phụ nữ làm đồ thủ công tại một cửa hàng. Với những người lao động và kinh doanh nhỏ, tiếp cận tài chính không chỉ nằm ở việc có tài khoản mà còn ở khả năng sử dụng dịch vụ phù hợp với sinh kế. Ảnh minh họa. Ảnh: Q. Hưng Phạm/Pexels. |
Một tài khoản ngân hàng từng là dấu hiệu khá rõ cho thấy một người đã bước vào hệ thống tài chính chính thức. Khi thanh toán bằng điện thoại, mua hàng trực tuyến và các dịch vụ số ngày càng phổ biến, việc có tài khoản vẫn quan trọng nhưng không còn đủ để nói hết khả năng tiếp cận tài chính của mỗi người.
Dữ liệu Global Findex 2025 của World Bank, dựa trên khảo sát thực hiện năm 2024, cho thấy khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới Việt Nam về sở hữu tài khoản đã khá nhỏ. Khoảng 69,9% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại tổ chức tài chính hoặc sử dụng dịch vụ tiền di động, so với 71,2% ở nam giới.
Nếu chỉ nhìn con số này, có thể dễ đi đến nhận định rằng khoảng cách giới trong tiếp cận tài chính gần như đã được giải quyết. Nhưng các chỉ số sâu hơn lại cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Phụ nữ và nam giới không nhất thiết tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ các dịch vụ tài chính theo cùng một cách.
Khoảng cách nhỏ ở tài khoản chưa phải là toàn bộ câu chuyện
Ở Việt Nam, pháp luật không đặt ra khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quyền mở tài khoản ngân hàng. Dữ liệu mới cũng cho thấy khoảng cách thực tế về sở hữu tài khoản đã thu hẹp khá nhiều.
Đây là một nền tảng quan trọng. Tài khoản giúp người sử dụng nhận lương, chuyển tiền, tiết kiệm, thanh toán và kết nối với nhiều dịch vụ tài chính khác. Trong quá trình số hóa nền kinh tế, nó còn trở thành cánh cửa để tiếp cận thương mại điện tử, dịch vụ công và các giao dịch không dùng tiền mặt.
Tuy vậy, sở hữu một tài khoản không cho biết tài khoản ấy được sử dụng thường xuyên đến đâu, số tiền được quản lý là bao nhiêu, người sử dụng có tự quyết định các giao dịch hay không và họ có tiếp cận được những sản phẩm như tiết kiệm, tín dụng hay bảo hiểm hay không.
![]() |
| Một phụ nữ bán hàng tại TP.HCM. Với người kinh doanh nhỏ, tiếp cận tài chính không chỉ nằm ở việc có tài khoản mà còn ở khả năng sử dụng các dịch vụ phù hợp với hoạt động mưu sinh. Ảnh minh họa. Ảnh: Ahmad Malulein/Pexels. |
Các chỉ số của World Bank cho thấy sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới thay đổi tùy từng hoạt động. Năm 2024, tỷ lệ phụ nữ có tài khoản tiền di động thấp hơn nam giới. Ở một số hoạt động khác, phụ nữ lại không đứng sau. Tỷ lệ nữ sử dụng điện thoại hoặc internet để thanh toán hóa đơn cao hơn nam, và tỷ lệ mua hàng trực tuyến bằng điện thoại hoặc internet cũng cao hơn.
Những con số này quan trọng ở chỗ chúng không ủng hộ cách nhìn đơn giản rằng phụ nữ luôn ít sử dụng công nghệ tài chính hơn nam giới. Khoảng cách giới có thể xuất hiện ở một dịch vụ, thu hẹp ở dịch vụ khác và đảo chiều ở một số hành vi cụ thể.
Vì thế, đánh giá bình đẳng trong tài chính số cần đi xa hơn việc đếm số tài khoản đã mở.
Từ quyền tiếp cận đến khả năng sử dụng thực sự
Một người có tài khoản nhưng ít tiền để duy trì số dư, không có thu nhập ổn định hoặc không đủ điều kiện vay vốn vẫn có vị thế tài chính rất khác so với người thường xuyên nhận lương, tiết kiệm và sử dụng nhiều sản phẩm ngân hàng.
Với phụ nữ, yếu tố này càng cần được nhìn cùng vị trí của họ trên thị trường lao động và trong hoạt động kinh doanh. Khả năng tiếp cận tài chính không tách rời mức thu nhập, loại hình việc làm, tài sản bảo đảm và khả năng tiếp cận thông tin.
Các cuộc thảo luận gần đây về phụ nữ khởi nghiệp tiếp cận vốn cũng cho thấy vốn không chỉ là chuyện có hay không một tài khoản ngân hàng. Doanh nghiệp còn cần năng lực quản trị, hồ sơ tài chính, khả năng chứng minh dòng tiền và kết nối với nhà đầu tư hoặc tổ chức tín dụng.
Ở cấp độ cá nhân cũng tương tự. Hai người cùng có tài khoản nhưng một người chỉ dùng để nhận hoặc chuyển những khoản tiền nhỏ, trong khi người kia có thể tiết kiệm, đầu tư hoặc tiếp cận tín dụng thì mức độ tham gia vào hệ thống tài chính rất khác nhau.
![]() |
| Người dân đi lại và mua sắm tại một khu chợ ở Hà Nội. Trong đời sống buôn bán và tiêu dùng thường ngày, khả năng tiếp cận tài chính không chỉ nằm ở chuyện có tài khoản mà còn ở cách mỗi người sử dụng các dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu thực tế. Ảnh minh họa. Ảnh: Ama Journey/Pexels. |
Khác biệt về kỹ năng cũng có thể ảnh hưởng đến cách sử dụng dịch vụ. Khi giao dịch chuyển dần lên điện thoại, khả năng đọc thông tin, nhận diện rủi ro, quản lý mật khẩu, tránh lừa đảo và hiểu chi phí của từng sản phẩm trở thành một phần của năng lực tài chính.
Điều này khiến kiến thức tài chính và kỹ năng số ngày càng gắn với nhau. Một người sử dụng điện thoại thành thạo chưa chắc hiểu rõ lãi suất, phí, tín dụng hay rủi ro của các hình thức vay trực tuyến. Ngược lại, người hiểu tài chính nhưng hạn chế kỹ năng số cũng có thể gặp khó khăn khi các dịch vụ chuyển mạnh sang ứng dụng.
Vì vậy, việc nâng tỷ lệ người có tài khoản sẽ có ý nghĩa lớn hơn nếu đi cùng khả năng sử dụng tài khoản an toàn và phù hợp với nhu cầu thực tế.
Không nên mặc định phụ nữ là nhóm yếu thế về công nghệ
Một cách tiếp cận giới thiếu thận trọng có thể dễ dàng biến mọi khác biệt thành câu chuyện phụ nữ bị tụt lại phía sau. Dữ liệu Việt Nam không cho phép kết luận đơn giản như vậy.
Trong bộ số liệu World Bank, phụ nữ có tỷ lệ truy cập internet thấp hơn nam ở một số năm được đo, nhưng lại sử dụng một số hình thức thanh toán và mua hàng trực tuyến nhiều hơn. Những khác biệt này cho thấy hành vi tài chính phụ thuộc không chỉ vào khả năng tiếp cận công nghệ mà còn vào nhu cầu sử dụng, thu nhập, công việc và cách phân chia trách nhiệm trong đời sống.
Chẳng hạn, việc phụ nữ thực hiện nhiều giao dịch mua hàng hoặc thanh toán hóa đơn không tự động có nghĩa họ có quyền kiểm soát tài chính lớn hơn. Một giao dịch có thể được thực hiện thay mặt gia đình, phục vụ kinh doanh hoặc cho nhu cầu cá nhân. Dữ liệu về hành vi không nên được kéo thành kết luận về quyền quyết định nếu khảo sát không đo trực tiếp yếu tố đó.
Ngược lại, cũng không nên coi tỷ lệ nam giới cao hơn ở một loại tài khoản là bằng chứng cho thấy toàn bộ hệ thống tài chính đang bất lợi cho phụ nữ. Cần xem từng chỉ số, từng nhóm tuổi, khu vực, thu nhập và mục đích sử dụng trước khi đưa ra nhận định.
Đây chính là điểm khác biệt giữa bình đẳng trên giấy tờ và bình đẳng thực chất. Quyền mở tài khoản có thể giống nhau, nhưng khả năng sử dụng dịch vụ để tạo thu nhập, tích lũy tài sản, ứng phó rủi ro hay mở rộng kinh doanh còn phụ thuộc nhiều điều kiện khác.
Mục tiêu nâng tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản lên mức rất cao trong những năm tới sẽ giúp thu hẹp khoảng trống tiếp cận ban đầu. Khi phần lớn dân số đã có tài khoản, câu hỏi tiếp theo cần chuyển từ “ai đã được vào hệ thống” sang “ai đang dùng hệ thống hiệu quả và ai vẫn chưa nhận được đầy đủ lợi ích từ nó”.
Với góc nhìn giới, đó mới là lớp dữ liệu cần được theo dõi lâu dài. Khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới có thể không còn lớn ở chiếc tài khoản đầu tiên, nhưng bình đẳng tài chính sẽ phụ thuộc vào những gì mỗi người có thể làm sau khi tài khoản ấy được mở.
Ba lớp cần nhìn khi nói về tiếp cận tài chính
1. Có tài khoản cho biết một người đã bước vào hệ thống tài chính chính thức.
2. Mức độ sử dụng cho biết họ có thực sự dùng thanh toán, tiết kiệm, tín dụng hay các dịch vụ khác hay không.
3. Lợi ích nhận được mới cho thấy dịch vụ tài chính có giúp người sử dụng tăng khả năng tự chủ, tích lũy và ứng phó với rủi ro hay không.




















Kiến thức tài chính cá nhân ảnh hưởng như thế nào đến quyết định chi tiêu làm đẹp của phụ nữ Việt Nam?
Tổng Giám đốc Mã Thanh Loan: Chính sách mở đường, năng lực quyết định phụ nữ khởi nghiệp đi xa đến đâu
Khởi nghiệp 0 đồng cho phụ nữ: Trao vốn, dạy nghề, lo đầu ra
Cùng chuyên mục
Có tài khoản chưa nói hết khoảng cách giới trong tài chính
Việc nhà trên mạng xã hội kể gì về vai trò giới
Nữ sinh cân nhắc điều gì khác nam sinh trước khi chọn nghề?
Ai quản lý tiền trong nhà có thật sự là người quyết định?
Phụ nữ có thu nhập cao hơn, vai trò gia đình có thay đổi?
Phụ nữ có thật sự giỏi làm nhiều việc cùng lúc hơn nam giới?