![]() |
| Hoạt động mua bán nhỏ trên đường phố Việt Nam. Ảnh minh họa: Loifotos/Pexels. |
Doanh thu một vài tháng tăng hoặc giảm chưa đủ để xác định chủ hộ phải đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức nào. Căn cứ được sử dụng là mức doanh thu năm kê khai theo quy định.
Theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành cuối tháng 7/2026, chủ hộ có đăng ký kinh doanh và mức kê khai doanh thu năm trên 1 tỷ đồng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Còn doanh thu không quá 1 tỷ đồng, chủ hộ chưa phải tham gia bắt buộc theo tư cách này và có thể đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Từ ngày 1/7/2029, những chủ hộ có đăng ký kinh doanh còn lại cũng sẽ thuộc diện tham gia bắt buộc.
Quy định trên áp dụng với người đứng tên chủ hộ, không phải tất cả phụ nữ đang bán hàng, làm dịch vụ hoặc cùng lao động trong một hộ kinh doanh. Một phụ nữ vừa đứng tên hộ kinh doanh, vừa làm việc theo hợp đồng tại doanh nghiệp có thể phải tham gia bảo hiểm theo tư cách người lao động tại doanh nghiệp.
Căn cứ là doanh thu năm, không phải tiền lãi
Ngưỡng 1 tỷ đồng được tính theo doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, không phải phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ tiền thuê mặt bằng, nguyên liệu, điện nước hay nhân công.
Hai cửa hàng cùng đạt doanh thu 1,2 tỷ đồng một năm có thể có mức lãi rất khác nhau. Tuy vậy, nếu cùng thuộc diện trên 1 tỷ đồng, người đứng tên chủ hộ đều phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hướng dẫn hiện hành.
Ngưỡng này được điều chỉnh tại Nghị định số 141/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Hộ kinh doanh có doanh thu không quá 1 tỷ đồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thông báo doanh thu với cơ quan thuế theo thời hạn áp dụng cho từng trường hợp.
Cần phân biệt hai đầu mối: doanh thu được kê khai, thông báo với cơ quan thuế; hồ sơ tham gia, điều chỉnh hoặc dừng thu bảo hiểm xã hội bắt buộc được giải quyết với cơ quan bảo hiểm xã hội. Chủ hộ không nên tự ngừng đóng chỉ vì ước tính doanh thu giảm, mà cần xác định lại diện tham gia và hoàn tất thủ tục theo hướng dẫn.
Khi thuộc diện bắt buộc, chủ hộ đóng 25% trên mức tiền lương do mình lựa chọn làm căn cứ, gồm 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Nếu tính thêm 4,5% bảo hiểm y tế bắt buộc, tổng tỷ lệ là 29,5%.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng 22% trên mức thu nhập lựa chọn vào quỹ hưu trí và tử tuất. Mức thu nhập làm căn cứ đóng có giới hạn tối thiểu, tối đa và người tham gia được Nhà nước hỗ trợ một phần tiền đóng theo nhóm đối tượng.
Sự khác nhau không chỉ nằm ở tỷ lệ. Bảo hiểm bắt buộc có chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí và tử tuất. Bảo hiểm tự nguyện tập trung vào hưu trí, tử tuất và có thêm trợ cấp thai sản từ ngày 1/7/2025.
Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, người tham gia tự nguyện hoặc có thời gian đóng kết hợp đủ ít nhất 6 tháng trong 12 tháng trước khi sinh con có thể nhận trợ cấp thai sản 2 triệu đồng cho mỗi con.
Khoản này không tương đương chế độ nghỉ thai sản và tiền thay thế thu nhập của bảo hiểm bắt buộc. Với phụ nữ đang dự định sinh con, sự khác biệt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch tài chính và khả năng duy trì hoạt động kinh doanh.
Điểm quan trọng là khi chuyển giữa hai hình thức, thời gian đã đóng không bị xóa. Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác nhận thời gian đóng bắt buộc và tự nguyện được bảo lưu, cộng lại để tính quyền lợi khi người tham gia đủ điều kiện.
Một quãng dừng cũng không làm mất những năm đã tích lũy. Nhưng nếu dừng quá lâu, người tham gia sẽ phải mất thêm thời gian để đạt tối thiểu 15 năm đóng khi đến tuổi hưởng lương hưu.
Muốn tham gia nhưng dòng tiền không đều
Kết quả nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế cho thấy chủ hộ nữ không thờ ơ với bảo hiểm xã hội như một số nhận định thường gặp.
Trong 212 chủ hộ đã đăng ký trả lời câu hỏi về ý định tham gia, khoảng 61% phụ nữ cho biết sẵn sàng hoặc rất sẵn sàng, cao hơn mức khoảng 57% ở nam giới. Tỷ lệ trả lời “rất sẵn sàng” lần lượt là 13,8% và 9,6%.
Các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm cho thấy phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi thai sản và mong muốn không phụ thuộc tài chính vào con cái khi về già.
Những kết quả này nằm trong báo cáo mở rộng bảo hiểm xã hội cho hộ kinh doanh tại Việt Nam của ILO, công bố năm 2026. Khảo sát được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 10/2024 với 827 người tại Hà Nội, TP.HCM, Thanh Hóa và Tuyên Quang.
Mẫu khảo sát không đại diện cho toàn bộ hộ kinh doanh trên cả nước. Việc thu thập dữ liệu cũng diễn ra trước khi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực và trước khi ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng được áp dụng. Vì vậy, kết quả chỉ phản ánh mức độ sẵn sàng tại thời điểm khảo sát, không thể dùng để dự báo chính xác số phụ nữ sẽ tham gia trong năm 2026.
Dù vậy, nghiên cứu chỉ ra một khoảng cách cần quan tâm: mong muốn có lương hưu không đồng nghĩa với khả năng đóng đều hằng tháng.
Doanh thu hộ kinh doanh thường thay đổi theo mùa, trong khi tiền thuê mặt bằng, nguyên liệu và sinh hoạt gia đình vẫn phải chi trả. Chủ hộ thuộc diện bắt buộc phải tự đóng toàn bộ phần bảo hiểm xã hội của mình, không có người sử dụng lao động chia sẻ như người làm công ăn lương.
Với một phụ nữ vừa kinh doanh vừa đảm nhiệm phần lớn công việc chăm sóc gia đình, tiền đóng bảo hiểm còn phải cạnh tranh với học phí, chi phí y tế và những khoản chi phát sinh khác. Một tháng bán chậm có thể dẫn tới tạm dừng đóng; nhiều lần tạm dừng có thể kéo dài thành một khoảng trống nhiều năm.
Vì vậy, khả năng tham gia cần được đánh giá bằng mức độ duy trì, không chỉ bằng số người đăng ký lần đầu.
Người đứng tên chưa phản ánh hết lao động nữ
Năm 2023, khoảng 8,9 triệu người làm việc trong 5,1 triệu hộ kinh doanh tại Việt Nam. Trong số đó, khoảng 1,7 triệu hộ được đăng ký chính thức với cơ quan thuế. Mức bao phủ bảo hiểm xã hội thực tế đối với chủ hộ và người lao động trong khu vực này vẫn dưới 5%.
Cấu trúc giới bên trong hộ kinh doanh cho thấy một vấn đề khác. Nam giới chiếm khoảng 70% số chủ hộ và lao động hưởng lương, trong khi phụ nữ chiếm 62% nhóm lao động gia đình có đóng góp.
Đây là những người cùng bán hàng, chế biến, ghi sổ, giao nhận hoặc chăm sóc khách hàng nhưng có thể không nhận lương riêng, không có hợp đồng và không đứng tên đăng ký kinh doanh.
Do đó, mở rộng bảo hiểm dựa chủ yếu vào danh sách chủ hộ mới tiếp cận được lớp lao động dễ nhận diện nhất. Phía sau một người đứng tên còn có thể là vợ, chị, em hoặc con gái làm việc thường xuyên nhưng chưa xuất hiện trong hồ sơ lao động.
Không có dữ liệu cho phép kết luận phụ nữ tập trung nhiều hơn ở nhóm doanh thu không quá 1 tỷ đồng. Điều có thể khẳng định là phụ nữ hiện diện nhiều trong nhóm lao động gia đình khó được nhận diện bằng giấy đăng ký kinh doanh.
Nếu chính sách chỉ được truyền đạt cho người đứng tên, một bộ phận lao động nữ vẫn có thể đứng ngoài cả bảo hiểm bắt buộc lẫn tự nguyện.
![]() |
| Quang cảnh lễ ký kết kế hoạch phối hợp tuyên truyền, thực hiện chính sách BHXH, BHYT giữa BHXH cơ sở Thới An và Hội LHPN các phường ngày 27/5/2026. Ảnh: BHXH cơ sở Thới An/BHXH TP.HCM. |
Chuyển diện phải có người hướng dẫn
Ngày 27/5/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở Thới An phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ của năm phường tại TP.HCM tổ chức chương trình tuyên truyền, đối thoại với hơn 80 hội viên phụ nữ là chủ hộ kinh doanh cá thể.
Theo Bảo hiểm xã hội TP.HCM, bảy chủ hộ đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay tại chương trình.
Một buổi đối thoại và bảy trường hợp đăng ký chưa đủ để đánh giá hiệu quả lâu dài. Giá trị của hoạt động nằm ở việc đưa thông tin đến đúng nhóm đang phải tự xác định nghĩa vụ của mình giữa những thay đổi về thuế và bảo hiểm.
Với mỗi chủ hộ, thông báo cần trả lời rõ họ đang thuộc diện nào, doanh thu nào được dùng làm căn cứ, thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc đóng bắt buộc, số năm đã tích lũy, mức đóng có thể lựa chọn và những quyền lợi thay đổi khi chuyển sang hình thức khác.
Hội Phụ nữ có thể hỗ trợ tiếp cận, nhắc lịch và ghi nhận vướng mắc. Việc xác định chính thức diện tham gia, điều chỉnh hồ sơ và giải quyết quyền lợi vẫn phải do cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện.
Dữ liệu quản lý cũng cần được tách theo giới: bao nhiêu chủ hộ nữ chuyển từ bắt buộc sang tự nguyện, bao nhiêu người chuyển theo chiều ngược lại, tỷ lệ tiếp tục đóng sau một năm và số lao động nữ trong gia đình chưa có hình thức bảo hiểm.
Doanh thu thay đổi không làm mất thời gian bảo hiểm đã tích lũy. Rủi ro nằm ở chỗ người tham gia không biết phải làm gì tiếp theo và để quãng tạm dừng kéo dài quá lâu.
Vì vậy, kết quả thực hiện chính sách không nên chỉ được đo bằng số chủ hộ được đưa vào diện bắt buộc. Chỉ số quan trọng hơn là sau mỗi lần doanh thu thay đổi, có bao nhiêu phụ nữ vẫn duy trì được quá trình đóng và tiếp tục tiến gần đến điều kiện hưởng lương hưu.


















Đối tượng nào phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 1/7 ?
Mức đóng BHXH bắt buộc từ 1/7 và quy định xử phạt mới
Dòng tiền số thêm căn cứ xét vay cho phụ nữ kinh doanh
Cùng chuyên mục
Có Internet chưa đủ để phụ nữ tăng thu nhập
Phụ nữ kinh doanh nhỏ đóng bảo hiểm thế nào khi doanh thu thay đổi?
20,2% lao động ngành năng lượng là nữ: Họ đang đứng ở đâu?
Trên ứng dụng, đàn ông chạy xe, phụ nữ nhận việc nhà
Những khoảng trống trong chăm sóc nữ phạm nhân
Dòng tiền số thêm căn cứ xét vay cho phụ nữ kinh doanh