Từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu do GS.TS. Nguyễn Huy Hoàng (Viện Nghiên cứu hệ Gen, nay là Viện Sinh học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) triển khai đề tài ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới, trọng tâm là giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa (Whole Exome Sequencing – WES), nhằm xác định căn nguyên di truyền của một số bệnh hiếm trên quần thể người Việt.
Tiếp cận hệ thống từ phòng thí nghiệm đến lâm sàng
Nghiên cứu được thực hiện trên 17 bệnh nhân thuộc 5 nhóm bệnh hiếm khác nhau, đồng thời thu thập thêm 44 mẫu từ các thành viên gia đình để phân tích phả hệ. Sau khi tách chiết DNA và xây dựng thư viện, các mẫu được giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa – khu vực chứa phần lớn các đột biến gây bệnh trong hệ gen người.
![]() |
| Các biến thể ở các gia đình bệnh nhân mắc bệnh loạn sản xương |
Phân tích dữ liệu cho thấy hàng trăm biến thể di truyền xuất hiện trên các gen liên quan đến các nhóm bệnh nghiên cứu. Qua quá trình sàng lọc nghiêm ngặt dựa trên tần suất, dự đoán ảnh hưởng chức năng và đối chiếu với cơ sở dữ liệu quốc tế cũng như dữ liệu người Việt, nhóm đã xác định được gần 20 biến thể có ý nghĩa bệnh lý, phân bố trên nhiều gen khác nhau, với mô hình di truyền rõ ràng trong từng gia đình.
Ở nhóm loạn sản xương, các đột biến được phát hiện trên những gen đã biết liên quan đến bệnh như FGFR2, FGFR3, RUNX2, PHEX; đồng thời ghi nhận một đột biến lệch khung mới trong gen BAAT ở bệnh nhân người Việt. Với nhóm suy tuyến yên bẩm sinh, các biến thể gây bệnh được xác định trên các gen POU1F1 và CDH7, góp phần làm sáng tỏ cơ chế rối loạn nội tiết ở từng trường hợp cụ thể.
![]() |
| Các biến thể ở các gia đình bệnh nhân mắc bệnh suy tuyến yên |
Đáng chú ý, trong nhóm loạn dưỡng não chất trắng, phân tích WES không chỉ giúp phân biệt các thể bệnh có biểu hiện lâm sàng tương đồng mà còn làm rõ cơ chế di truyền lặn thông qua dữ liệu phả hệ. Nghiên cứu ghi nhận trường hợp đầu tiên tại Việt Nam mắc bệnh PKAN do mang hai đột biến dị hợp tử kép trên gen PANK2, xác định chính xác căn nguyên phân tử của bệnh. Ngoài ra, các biến thể mới trên gen HPDL và AARS2 cũng được phát hiện ở bệnh nhân não bé kèm bất thường cơ thể.
Tạo lập dữ liệu di truyền đặc thù cho người Việt
Một trong những giá trị cốt lõi của đề tài là xây dựng được 5 bộ dữ liệu giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa tương ứng với 5 nhóm bệnh hiếm, gắn với thông tin kiểu gen – kiểu hình chi tiết. Đây là nguồn dữ liệu có ý nghĩa lâu dài cho nghiên cứu và thực hành lâm sàng trong nước, trong bối cảnh dữ liệu di truyền của người Việt về bệnh hiếm còn hạn chế.
Kết quả cho thấy việc kết hợp phân tích WES với dữ liệu lâm sàng và phả hệ gia đình giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, đồng thời hỗ trợ tư vấn di truyền cho người bệnh và thân nhân. Cách tiếp cận hệ thống này không chỉ dừng ở phát hiện biến thể mà còn chú trọng kiểm chứng, phân tích chức năng và xác lập mối liên hệ nhân – quả giữa đột biến và biểu hiện bệnh.
![]() |
| Vị trí của các biến thể POU1F1 trong protein (a) và của p.Arg143Gln trong cấu trúc không gian ba chiều của PIT-1 người (b) |
Đề tài đã đóng góp các công bố quốc tế và trong nước, đồng thời góp phần đào tạo nhân lực trong lĩnh vực di truyền y học. Quan trọng hơn, nghiên cứu khẳng định năng lực làm chủ công nghệ giải trình tự thế hệ mới của các nhà khoa học trong nước và khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào thực hành lâm sàng.
Trong bối cảnh y học chính xác đang trở thành xu hướng toàn cầu, những dữ liệu bước đầu từ quần thể người Việt là nền tảng quan trọng để mở rộng quy mô nghiên cứu, tích hợp sâu hơn dữ liệu di truyền với dữ liệu lâm sàng. Từ đó, việc chẩn đoán, tư vấn và quản lý bệnh hiếm có thể được thực hiện sớm hơn, chính xác hơn và cá thể hóa hơn đem lại cơ hội rõ ràng hơn cho người bệnh và gia đình.






















Mô hình AI phát hiện bất thường: Tiềm năng ứng dụng trong chẩn đoán các bệnh hiếm gặp
Hai nữ trí thức Việt ở Châu Âu đang làm gì với Gen và AI
Google ra mắt công cụ AI giải mã bí ẩn bộ gene người
Hành trình từ thực địa đến công bố trên Springer Nature: Dữ liệu Việt Nam trong nghiên cứu hệ gen giun tim toàn cầu
“Sạc lại” tế bào già yếu, hướng đi mới trong điều trị bệnh lão hóa
Phát hiện cơ chế tự làm sạch của não, mở ra hy vọng mới trong điều trị bệnh Alzheimer
Cùng chuyên mục
Giải trình tự gen thế hệ mới: Mở đường cho chẩn đoán bệnh hiếm ở người Việt
Những xu hướng công nghệ hứa hẹn thay đổi lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trong năm 2026
Xu thế công nghệ và cơ hội cho phụ nữ trong kỷ nguyên AI
Vật liệu “lai” giữa thủy tinh và nhựa thách thức quy luật vật lý
Phát hiện loài khủng long tí hon nắm giữ miếng ghép khoảng trống tiến hóa 70 triệu năm
Lớp cát bí ẩn hé lộ dấu vết nghi lễ và nguồn gốc đô thị cổ hơn 4.700 năm tuổi