![]() |
| GS.TS Ngô Thị Phương Lan. Ảnh: ITN |
Trong danh sách các tân giáo sư năm 2024, cái tên Ngô Thị Phương Lan thu hút sự chú ý không chỉ bởi học hàm, mà bởi vị trí học thuật đặc biệt. Bà là người duy nhất của liên ngành Sử – Khảo cổ – Dân tộc học đạt học hàm giáo sư, một lĩnh vực vốn không ồn ào về công bố quốc tế hay chỉ số trích dẫn, nhưng có vai trò nền tảng trong việc lý giải những biến động xã hội sâu xa.
Sinh ra tại Cần Đước (Long An), vùng đất nằm giữa đô thị Sài Gòn và đồng bằng sông nước, GS Phương Lan lớn lên cùng những biến chuyển nhanh chóng của nông thôn Nam Bộ. Quá trình đô thị hóa, sự thu hẹp của làng xã truyền thống và những thay đổi trong sinh kế nông dân sớm đặt ra cho bà những câu hỏi về con người, cộng đồng và sự phát triển những câu hỏi theo bà suốt con đường học thuật sau này.
Hành trình đào tạo của GS Phương Lan mang dấu ấn rõ nét của chiến lược “đi xa để trở về”. Từ nền tảng cử nhân Đông phương học, bà tiếp tục học thạc sĩ tại Đại học Toronto (Canada), tốt nghiệp năm 2000. Tại đây, bà tiếp cận các khung lý thuyết nhân học Anh – Mỹ và sinh kế bền vững, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ GS Lương Văn Hy nhà nhân học gốc Việt hàng đầu thế giới, từng là Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu châu Á.
Tuy nhiên, thay vì tiếp tục con đường học thuật ở phương Tây, bà chọn trở về Việt Nam làm tiến sĩ. GS Phương Lan gọi lựa chọn này là chiến lược “ghép cành”, lý thuyết quốc tế chỉ thực sự có giá trị khi được đặt trên nền dữ liệu thực địa sống động của Việt Nam. Luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2011 tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn tập trung vào hành vi giảm thiểu rủi ro và vai trò vốn xã hội của nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm.
Từ các nghiên cứu thực địa kéo dài nhiều năm, bà đưa ra cách nhìn khác về chuyển dịch “từ lúa sang tôm”. Dưới góc độ nhân học, đó không chỉ là lựa chọn kinh tế mà là một canh bạc sinh kế. Nuôi tôm mang lại lợi nhuận cao nhưng kéo theo rủi ro lớn, buộc nông dân phải vay vốn, thế chấp tài sản và phụ thuộc vào các yếu tố khó kiểm soát như độ mặn, dịch bệnh. Quan trọng hơn, mô hình này làm thay đổi cấu trúc xã hội nông thôn, từ hợp tác sang biệt lập, từ chia sẻ sang nghi kỵ.
Theo GS Phương Lan, nước mặn không chỉ mang theo cơ hội làm giàu mà còn bào mòn vốn xã hội yếu tố từng giữ cho cộng đồng nông thôn gắn kết. Từ đó, bà đề xuất và ủng hộ mô hình luân canh lúa tôm như một cách tiếp cận “thuận thiên”: mùa mưa trồng lúa, mùa khô nuôi tôm, vừa tận dụng điều kiện tự nhiên vừa buộc cộng đồng phải cùng quản lý nguồn nước, thống nhất lịch thời vụ. Ở đây, kỹ thuật chỉ là một phần; yếu tố quyết định là sự hợp tác và niềm tin được tái lập.
Trong nhiều công trình nghiên cứu và trao đổi học thuật, GS Phương Lan luôn nhấn mạnh vai trò của vốn xã hội, tri thức bản địa và tiếng nói của người trong cuộc trong các chính sách phát triển. Theo bà, cách đo lường phát triển chủ yếu bằng các chỉ số kinh tế dễ dẫn đến bỏ qua những giá trị nằm ở tầng sâu như niềm tin, bản sắc, mối quan hệ cộng đồng những yếu tố cốt lõi quyết định tính bền vững.
Tư duy ấy tiếp tục theo bà khi bước vào vai trò quản trị đại học. Năm 2018, GS Phương Lan trở thành nữ hiệu trưởng đầu tiên của Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, đúng thời điểm giáo dục đại học chuyển sang cơ chế tự chủ với áp lực tài chính lớn. Bài toán đặt ra là bảo đảm nguồn lực vận hành mà không đánh mất bản sắc học thuật và giá trị nhân văn.
Theo GS Phương Lan, tự chủ không đồng nghĩa với thương mại hóa tri thức. Nhà trường đã lựa chọn nâng cao hiệu quả quản trị, mở rộng các chương trình đào tạo liên ngành, ngắn hạn và đào tạo theo nhu cầu xã hội để tạo nguồn thu, đồng thời duy trì các ngành khoa học cơ bản và những lĩnh vực khó tuyển sinh bằng sự hỗ trợ của ĐH Quốc gia TP.HCM. Trọng tâm đầu tư vẫn là con người, giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên.
Song song đó, bà thúc đẩy triết lý “đại học xanh”, hiểu theo nghĩa rộng, một hệ sinh thái giáo dục lành mạnh, nơi tư duy phản biện đi cùng trách nhiệm xã hội, nơi sinh viên được chuẩn bị để hội nhập quốc tế nhưng không tách rời căn cước văn hóa.
Ở GS.TS Ngô Thị Phương Lan, người ta thấy rõ sự kết nối giữa thực địa nhân học và bàn điều hành quản trị. Đó là một chân dung trí thức khoa học xã hội đương đại, tiếp cận phát triển bằng lý thuyết nghiêm cẩn, nhưng luôn neo mình vào đời sống con người cụ thể từ bờ bãi ngập mặn miền Tây đến giảng đường đại học trong thời kỳ tự chủ.

















Nhà khoa học nữ và hành trình đưa công nghệ số về ruộng đồng
Dấu ấn các nhà khoa học nữ tại Techfest Việt Nam 2025
Mary-Claire King: Nhà khoa học nữ phát hiện thay đổi chuẩn chăm sóc ung thư vú và buồng trứng toàn cầu
TS. Linh Lê - Nhà khoa học nữ xuất sắc L’Oréal–UNESCO 2025
Chân dung năm nhà khoa học nữ mang trí tuệ đến ruộng đồng
Chân dung 5 nhà khoa học nữ xuất sắc giành Giải thưởng quốc tế L’Oréal–UNESCO cho phụ nữ trong khoa học 2025
Cùng chuyên mục
GS.TS Ngô Thị Phương Lan và vai trò của khoa học xã hội trong phát triển vùng
Nữ bác sĩ đầu tiên điều khiển robot phẫu thuật sản phụ khoa
Chọn giống tốt, dùng AI đúng cách: Góc nhìn từ hai nữ trí thức Việt tại châu Âu
Nữ tiến sĩ trở về từ Nhật Bản mang theo hoài bão thực hành “quản trị bằng yêu thương”
Ca sĩ Ái Lê – Giọng ca lan tỏa yêu thương và hành trình nhân ái bền bỉ
KOL Y Bình – Một người trẻ chọn lan tỏa yêu thương bằng uy tín và trách nhiệm