Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm thương mại
Có 334 sản phẩm công nghệ của các đơn vị thuộc 19 bộ, ngành, địa phương đạt mức độ sẵn sàng công nghệ từ 7 đến 9, đủ khả năng chuyển giao ngay. Tuy nhiên, trong danh mục hơn 1.000 sản phẩm công nghệ được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tổng hợp từ 41 đơn vị, vẫn còn 484 sản phẩm chưa xác định được mức độ sẵn sàng công nghệ.
Thực trạng này cho thấy thách thức của hoạt động nghiên cứu không chỉ nằm ở việc tạo ra tri thức hay công nghệ mới mà còn ở khả năng hoàn thiện sản phẩm để đáp ứng yêu cầu ứng dụng thực tế.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ GDĐT Phạm Quang Hưng. Ảnh: Chính phủ.vn |
Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), tổ chức sáng 23/10, Thứ trưởng Bộ GDĐT Phạm Quang Hưng cho biết các điều kiện về chính sách, thể chế cơ bản đã được hình thành. Vấn đề trọng tâm hiện nay là chuyển các chủ trương thành đơn đặt hàng có kinh phí, các liên minh hợp tác có cơ chế quản trị và những sản phẩm thực sự có người sử dụng.
Theo Thứ trưởng, phần lớn kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước mới đạt mức độ sẵn sàng công nghệ từ 3 đến 4, trong khi doanh nghiệp thường cần sản phẩm đạt mức 6 đến 7 trở lên mới có thể ứng dụng. Khoảng cách này khiến nhiều kết quả nghiên cứu gặp khó khăn khi chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang thương mại hóa.
Đáng chú ý, số sản phẩm thuộc các lĩnh vực công nghệ chiến lược còn hạn chế, với 38 sản phẩm trí tuệ nhân tạo và 7 sản phẩm bán dẫn. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ gia tăng số lượng kết quả nghiên cứu mà còn phải đầu tư cho quá trình phát triển, hoàn thiện và đưa công nghệ vào sử dụng.
Năng lực nghiên cứu lớn nhưng nguồn thu chuyển giao còn khiêm tốn
Hệ thống giáo dục đại học hiện có hơn 95.000 giảng viên, gần 64.000 nghiên cứu sinh và tập trung khoảng 83% lực lượng nghiên cứu của cả nước. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Năm 2025, khối đại học có hơn 21.000 công bố khoa học thuộc hệ thống Scopus và Web of Science, tăng khoảng 16,1% so với năm trước, chiếm gần 84% tổng số công bố của cả nước. Trong 9 tháng năm 2026, các trường đã nộp 513 đơn đăng ký sáng chế, vượt kết quả của cả năm 2025.
Một số cơ sở giáo dục đại học đã ghi nhận nguồn thu đáng kể từ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Năm 2025, Đại học Quốc gia TPHCM đạt doanh thu 137 tỷ đồng, trong đó khoảng 60% đến từ nghiên cứu đặt hàng; Đại học Quốc gia Hà Nội đạt trên 52 tỷ đồng. Đại học Bách khoa Hà Nội thu trên 41 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026.
Dù vậy, nguồn thu từ hoạt động KH&CN mới chiếm khoảng 4,94% tổng nguồn thu của các trường đại học. Kết quả này phản ánh khoảng cách giữa thành tích nghiên cứu và khả năng tạo ra giá trị kinh tế từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, việc kết nối nguồn lực nghiên cứu của các trường với nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết, nhất là khi các địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Bài toán càng rõ nét khi đặt trong tương quan với khu vực doanh nghiệp. Khoảng 97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D). Tổng chi cho R&D của toàn xã hội mới ở mức khoảng 0,4–0,5% GDP.
Trong bối cảnh đó, nếu thiếu cơ chế kết nối phù hợp, năng lực nghiên cứu tập trung tại các trường đại học khó chuyển hóa đầy đủ thành năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp cũng chưa khai thác hiệu quả nguồn tri thức và công nghệ được tạo ra từ các cơ sở nghiên cứu.
Doanh nghiệp cần công nghệ, trường đại học cần cơ chế hợp tác
Kết quả khảo sát 211 cơ sở đào tạo và doanh nghiệp năm 2026 cho thấy sự chênh lệch đáng kể trong đánh giá nhu cầu hợp tác. Các trường đại học chấm mức độ cần thiết của hợp tác khoảng 4/5 điểm, trong khi nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ đánh giá ở mức 2,68 điểm.
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, nhu cầu hợp tác từ phía các trường khá lớn nhưng mức độ tham gia thực tế của doanh nghiệp còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân là chưa có đủ cơ chế hợp tác cụ thể, xác định rõ nhu cầu, trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích của từng bên.
Hiện cả nước có khoảng 120 văn phòng chuyển giao công nghệ, song phần lớn chưa hoạt động chuyên nghiệp. Trong khi các nhà khoa học có thế mạnh về nghiên cứu, không phải ai cũng có đủ năng lực tìm kiếm khách hàng, thương mại hóa sản phẩm hoặc đàm phán hợp đồng. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận đầy đủ thông tin về các công nghệ và sản phẩm đang được nghiên cứu tại trường đại học.
Từ những hạn chế này, Thứ trưởng đặt ra bốn câu hỏi cần được giải quyết: Ai đặt hàng và trả tiền cho nghiên cứu? Nguồn kinh phí nào hỗ trợ giai đoạn hoàn thiện công nghệ, nhất là từ mức độ sẵn sàng 4 đến 7? Ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro? Kết quả hợp tác được đo lường như thế nào?
Trong đó, cơ chế xử lý rủi ro là vấn đề được nhiều cơ sở giáo dục đại học quan tâm. Dù các quy định pháp luật cơ bản đã được hoàn thiện, một số người đứng đầu cơ sở đào tạo vẫn e ngại khi quyết định đầu tư vào những hoạt động nghiên cứu có khả năng không đạt kết quả như dự kiến.
Điều này cho thấy liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào nhu cầu hợp tác chung. Các bên cần có phương thức đặt hàng, cơ chế tài chính và quy định trách nhiệm đủ rõ để cùng tham gia từ nghiên cứu đến hoàn thiện công nghệ và khai thác thương mại.
Từ mô hình thí điểm đến hợp đồng có sản phẩm đầu ra
Một số mô hình hợp tác đã bước đầu cho thấy khả năng kết nối nhu cầu thực tế với nguồn lực nghiên cứu. Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai chương trình nghiên cứu trí tuệ nhân tạo phối hợp với Bộ Công an; Đại học Giao thông vận tải đã có sản phẩm nghiên cứu bàn giao cho doanh nghiệp. Đại học Quốc gia TPHCM phối hợp với địa phương và doanh nghiệp triển khai 353 nhiệm vụ KH&CN, trong khi Đà Nẵng áp dụng cơ chế đặt hàng kép.
Điểm chung của các mô hình này là nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi và có đơn vị đủ năng lực điều phối hợp tác. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, đây mới là những điểm sáng riêng lẻ, chưa trở thành phương thức hợp tác phổ biến.
Để mở rộng các mô hình hiệu quả, Bộ GDĐT kiến nghị cho phép thí điểm Chương trình Liên minh nghiên cứu hợp tác ba nhà theo cơ chế đồng tài trợ, tham khảo kinh nghiệm tổ chức các trung tâm nghiên cứu hợp tác của Australia.
Theo đề xuất, các dự án sẽ được triển khai theo quy mô tăng dần, gắn với năng lực thực hiện và mức độ tham gia của doanh nghiệp. Quan hệ hợp tác phải được xác lập bằng hợp đồng cụ thể, có kinh phí đối ứng từ doanh nghiệp và giải ngân ngân sách theo tiến độ, kết quả thực hiện. Những hoạt động chỉ dừng ở biên bản ghi nhớ, chưa hình thành nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể, sẽ không được tính là kết quả hợp tác.
Bộ GDĐT cũng đề xuất thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học tại Đại học Bách khoa Hà Nội theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, với quy mô tối đa 15 doanh nghiệp trong 24 tháng. Mô hình này hướng tới tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu phát triển thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng khai thác thương mại.
Cùng với việc tổ chức hợp tác nghiên cứu, Bộ GDĐT kiến nghị các tập đoàn, doanh nghiệp và địa phương đặt hàng đào tạo nhân lực ngay từ giai đoạn chuẩn bị những dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân và vi mạch bán dẫn.
Thứ trưởng Phạm Quang Hưng nhấn mạnh công tác đào tạo phải đi trước một bước bởi việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cần nhiều năm, không thể đợi đến khi dự án triển khai mới bắt đầu.
Bộ GDĐT đồng thời kiến nghị thành lập tổ công tác liên ngành để phối hợp tháo gỡ vướng mắc giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học. Bộ cũng đề nghị Bộ Tài chính, Bộ KH&CN hướng dẫn cơ chế chi theo sản phẩm cuối cùng, cơ chế miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện đúng quy trình và bổ sung nguồn lực hỗ trợ giai đoạn hoàn thiện công nghệ từ mức độ sẵn sàng 4 đến 7.
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, liên kết ba nhà cần chuyển từ những thỏa thuận mang tính nguyên tắc sang các nhiệm vụ có người đặt hàng, có nguồn kinh phí, có cơ chế quản trị và có sản phẩm được sử dụng. Đây là điều kiện để khai thác hiệu quả hơn năng lực nghiên cứu của các trường đại học, đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế.

















Thủ tướng yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Phó Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Việt Nam đặt mục tiêu có thêm 500 startup thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào năm 2035
Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp: Miệt mài tạo những nhịp cầu giúp nữ trí thức hiện thực hóa giấc mơ thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Cùng chuyên mục
Hà Nội triển khai Tháng hành động vì bình đẳng giới từ ngày 15/11
Phó Thủ tướng yêu cầu chuyển trọng tâm nghiên cứu sang sản phẩm thương mại
Hơn 1.000 sản phẩm công nghệ chờ chuyển giao, vì sao thương mại hóa vẫn khó?
Nữ trí thức Khánh Hòa bàn cách phát triển sự nghiệp và giữ gìn hạnh phúc gia đình
17 nhiệm vụ công nghệ chiến lược được phê duyệt, đề xuất kinh phí hơn 2.319 tỉ đồng
Hà Nội hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ kết nối đầu tư, xúc tiến thương mại