![]() |
| Nữ phi hành gia Kellie Gerardi trở về sau chuyến bay nghiên cứu trong môi trường vi trọng lực (Ảnh: Kellie Gerardi/Wikimedia Commons) |
Hình ảnh những chiếc áo phi công màu hồng, các câu trích dẫn về nữ danh ca Taylor Swift hay búp bê barbie phi hành gia trông có vẻ không liên quan đến hoạt động truyền thông khoa học. Thế nhưng theo góc nhìn của các nhà nghiên cứu, các bài viết lồng ghép những chi tiết gợi nhắc đến văn hóa đại chúng lại có thể giúp đưa thông tin trở nên dễ tiếp cận hơn với công chúng.
Một nghiên cứu mới được thực hiện bởi bà Jocelyn Steinke, giáo sư Khoa Truyền thông tại Đại học Connecticut (Mỹ) cùng các học viên cao học là Karen Shalev và Shannon Pappas đã đi sâu phân tích vào vấn đề này.
Vào tháng 6 năm 2024, tập đoàn hàng không vũ trụ Virgin Galactic đã công bố một chuyến bay nghiên cứu với phi hành đoàn toàn nữ, hợp tác với Viện Khoa học Du hành Vũ trụ Quốc tế nhằm nghiên cứu hành vi của các chất lưu trong môi trường vi trọng lực.
Ba phi hành đoàn khi đó bao gồm Kellie Gerardi, một nhà nghiên cứu sinh học vũ trụ người Mỹ, là người dẫn đầu phi hành đoàn. Shawna Pandya là một bác sĩ kiêm nhà nghiên cứu đại dương người Canada, và Norah Patten là một kỹ sư hàng không vũ trụ người Ireland. Tại thời điểm đó, Gerardi có khoảng 1,4 triệu người theo dõi, Patten có khoảng 99.000 người và Pandya có khoảng 30.000 người.
Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào 194 bài đăng công khai của cả ba nữ phi hành gia trong khoảng thời gian từ ngày 24/6 đến 24/11/2024. Các nhà nghiên cứu xem video, nghe âm thanh, đồng thời phân tích chú thích, hashtag và biểu tượng cảm xúc trong từng bài.
Một trong những ví dụ được nhóm nghiên cứu chú ý là video cô Gerardi tháo các huy hiệu khỏi chiếc áo phi hành gia màu xanh hải quân và lắp chúng vào chiếc áo màu hồng. Video cho thấy cô con gái 6 tuổi của cô, Delta, đã nhảy lên và chỉ vào TV khi nhìn thấy mẹ xuất hiện trên truyền hình với chiếc áo mới.
Cô Gerardi đã cảm ơn viện vì đã bổ sung thêm sự lựa chọn áo cho phi hành gia, và giải thích rằng việc cho các cô gái thể hiện sự nữ tính hay niềm vui không làm giảm giá trị chuyên môn. Nhóm nghiên cứu cho biết, những bài đăng với nội dung như vậy góp phần thách thức các quan niệm truyền thống về một nhà khoa học hay phi hành gia.
Trên trang Instagram, ba người phụ nữ này đã đăng các bài viết không chỉ với tư cách của một phi hành gia, bác sĩ, kỹ sư, nhà nghiên cứu mà còn với vai trò của một người mẹ, người con gái, người yêu thời trang và âm nhạc. Những khía cạnh đời thường này được đặt cạnh các nội dung về nghiên cứu, huấn luyện và thành tựu nghề nghiệp.
Cô Gerardi từng chia sẻ về hành trình điều trị hiếm muộn và thụ tinh trong ống nghiệm của mình. Cô Patten thì đăng những bức ảnh khi cô 15 tuổi tham quan Trung tâm Vũ trụ Kennedy, còn cô Pandya kể rằng niềm quan tâm với không gian bắt đầu từ việc theo dõi bà Roberta Bondar, nữ phi hành gia đầu tiên của Canada.
“Bằng cách xem các bài đăng về hành trình sự nghiệp, các hoạt động nghiên cứu, thành tựu, thách thức và đời sống cá nhân của họ, các phụ nữ trẻ có thể tìm thấy cảm hứng và góc nhìn sâu sắc để giúp họ hình dung và định hướng con đường STEM của riêng mình”, giáo sư Steinke cho biết.
Văn hóa đại chúng giúp đưa khoa học đến gần công chúng
Các nữ phi hành gia cũng sử dụng văn hóa đại chúng để tạo sự chú ý riêng.
Cô Gerardi tự gọi mình là “bratstronaut”, một cách chơi chữ liên quan đến album brat của ca sĩ Charli XCX. Cô Patten thì từng đăng nội dung nhắc đến Taylor Swift sau các buổi biểu diễn của nữ ca sĩ tại Ireland. Cô Pandya thì sử dụng ca khúc Space Oddity của David Bowie trong một video ghi lại cảnh phi hành đoàn trôi nổi trong môi trường không trọng lực.
Theo nhóm nghiên cứu, việc sử dụng những âm thanh phổ biến trên mạng xã hội có thể giúp nội dung tiếp cận nhóm đối tượng rộng hơn, những người nằm bên ngoài nhóm người theo dõi sẵn có.
Trong một video, Gerardi cho con gái đoán điều gì sẽ xảy ra với một con bạch tuộc nhồi bông trong môi trường vi trọng lực. Câu trả lời của cô bé sau đó được đối chiếu với hình ảnh món đồ chơi thực sự trôi nổi trong chuyến bay.
Các nhà nghiên cứu cho rằng cách kể chuyện này đưa kiến thức khoa học vào những tình huống quen thuộc, thay vì chỉ trình bày thông tin theo hình thức chuyên môn.
“Tôi rất ấn tượng về cách những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực khoa học này kể câu chuyện của họ một cách sáng tạo, không chỉ chia sẻ những thành tựu của họ với tư cách là phụ nữ trong ngành STEM mà còn chia sẻ hành trình STEM và những trải nghiệm đời sống cá nhân theo những cách đầy tưởng tượng và thuyết phục”, giáo sư Steinke nói.
Mỗi người xây dựng một hình ảnh riêng
Dù cùng sử dụng Instagram để truyền tải khoa học, ba nữ phi hành gia có cách xây dựng hình ảnh khác nhau.
Cô Gerardi chọn tiếp cận theo hướng tập trung vào phong cách của một influencer (người có ảnh hưởng), kết hợp nội dung khoa học với các sự kiện thời trang và hoạt động truyền thông. Có lần, cô chia sẻ việc xuất hiện trên sàn catwalk tại Tuần lễ Thời trang New York cùng con gái và hình ảnh một búp bê barbie phi hành gia.
Trong khi đó, cô Pandya tập trung nhiều hơn vào hình ảnh của một nhà khoa học, chẳng hạn các nội dung giới thiệu quá trình huấn luyện của phi hành đoàn trong hồ bơi.
Bà Steinke cho rằng truyền thông khoa học trên Instagram không chỉ là việc chia sẻ kiến thức mà còn đòi hỏi người làm nội dung cân nhắc cách công chúng tiếp nhận thông tin. Việc lựa chọn hình ảnh, cách kể chuyện và những xu hướng phổ biến trên nền tảng có thể giúp nội dung khoa học tiếp cận nhóm khán giả trẻ.
Nhóm nghiên cứu cho biết nghiên cứu trên vẫn còn những giới hạn, chưa thể xác định nội dung nào có tác động lớn nhất đến khán giả hoặc liệu những cách tiếp cận này có phổ biến trong các lĩnh vực khoa học khác hay không.
Trong tương lai, nhóm nghiên cứu sẽ xem xét việc phỏng vấn những người làm truyền thông khoa học, khảo sát người theo dõi và mở rộng phạm vi sang nhiều nền tảng, lĩnh vực hơn.
Nghiên cứu đã được công bố trên Journal of Science Communication.



















Australia đưa STEM vào đời sống, truyền lửa giúp nữ sinh tự tin làm chủ trí tuệ nhân tạo và công nghệ
Hai nữ kỹ sư Gen Z lần đầu thực hiện nghiên cứu về kinh nguyệt trong môi trường vi trọng lực
Sophia Crowder, cô gái mang giấc mơ vũ trụ từ vùng quê nước Mỹ
Aisha Bowe và hành trình “chắp cánh” ước mơ bay vào không gian của cô gái nhập cư
Lớp phi hành gia mới của NASA lập kỷ lục với số lượng nữ phi hành gia chiếm đa số
Khi sự tự tin bị bào mòn: bí ẩn sự ra đi của phụ nữ trong ngành STEM
Cùng chuyên mục
Khi thời trang và văn hóa đại chúng trở thành "cầu nối" khoa học
Công nghệ giấy dán tường có thể tạo ra điện từ độ ẩm không khí
Nhật Bản thực hiện ca phẫu thuật đầu tiên trên thế giới sử dụng tế bào gốc cơ tim
Công nghệ cảm biến nước muối mô phỏng xúc giác con người
Trung Quốc xây dựng bản đồ địa chất mới cho Sao Hỏa
Nghiên cứu công nghệ nhận diện nốt phổi có nguy cơ ung thư từ hơi thở