Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Theo cơ chế này, kinh phí không chỉ được phân bổ dựa trên dự toán ban đầu mà còn gắn với từng gói công việc và các mốc đánh giá cụ thể. Mỗi gói phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện.
Các gói công việc được tập hợp theo từng mốc đánh giá. Hội đồng đánh giá căn cứ vào sản phẩm và bằng chứng đã xác định từ đầu, thay vì tập trung xem xét đã chi bao nhiêu hoặc hoàn thành bao nhiêu thủ tục.
Kết quả tại các mốc đánh giá trở thành căn cứ để thanh toán, quyết toán và cấp kinh phí cho các gói công việc tiếp theo. Nếu kết quả không đạt yêu cầu, phương án nghiên cứu có thể được điều chỉnh hoặc dừng đồng thời, việc cấp kinh phí cũng có thể được điều chỉnh hoặc dừng.
![]() |
| Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Ảnh: BKHCN |
Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), cho biết cơ chế mới tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp và nhà khoa học tập trung làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Nhà nước chia sẻ rủi ro theo mức độ ưu tiên
Một điểm đáng chú ý khác của Thông tư 49 là ngân sách Nhà nước không áp dụng một tỷ lệ hỗ trợ chung cho tất cả nhiệm vụ. Mức hỗ trợ được thiết kế dựa trên mức độ ưu tiên, rủi ro và khả năng huy động nguồn lực của từng nhiệm vụ.
Đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng nhằm phát triển công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt đối với tự chủ công nghệ quốc gia, an ninh, quốc phòng hoặc các nhiệm vụ có độ rủi ro cao, ngân sách Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100%.
Trong khi đó, với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa, ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại được huy động từ doanh nghiệp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
Như vậy, tỷ lệ hỗ trợ không áp dụng cào bằng mà gắn với mục tiêu công nghệ, giai đoạn phát triển của sản phẩm, mức độ rủi ro và triển vọng tạo ra giá trị.
Cơ chế này không phải là một chính sách riêng lẻ mà là sự cụ thể hóa đồng bộ các chủ trương và quy định pháp luật mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định quan điểm thể chế đi trước, ưu tiên nguồn lực quốc gia cho công nghệ chiến lược, đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Tinh thần này tiếp tục được thể chế hóa trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Công nghệ cao, Luật Ngân sách nhà nước và các nghị định hướng dẫn về tài chính, đầu tư, quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên nền tảng pháp lý đó, Thông tư 49 cụ thể hóa các nguyên tắc thành cơ chế lập dự toán, sử dụng, thanh toán và quyết toán kinh phí, với cách tiếp cận Nhà nước chia sẻ rủi ro và huy động nguồn lực xã hội.
Từ tiền kiểm sang tự chủ, hậu kiểm
Cách phân bổ kinh phí nói trên đi cùng ba thay đổi trong phương thức quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Thứ nhất, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Nhiệm vụ được chia thành các gói công việc, gắn với sản phẩm và các mốc đánh giá cụ thể. Kinh phí được phân bổ theo kết quả của từng gói công việc.
Thứ hai, chuyển từ kiểm soát thủ tục sang quản trị theo mốc đánh giá. Mỗi mốc đánh giá là một điểm kiểm soát. Nếu kết quả đạt yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục được cấp kinh phí và triển khai các gói công việc tiếp theo. Nếu không đạt, phương án nghiên cứu có thể được điều chỉnh hoặc dừng thực hiện. Cách làm này nhằm tập trung nguồn lực cho những hướng nghiên cứu có triển vọng và tính khả thi cao.
Thứ ba, chuyển từ tiền kiểm sang tự chủ gắn với hậu kiểm. Tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu được trao quyền chủ động hơn trong quá trình triển khai, đồng thời phải nâng cao trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro.
Ba chuyển dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau, trao quyền để tăng tốc, quản lý theo kết quả để bảo đảm hiệu quả đầu tư và tăng cường hậu kiểm để bảo đảm trách nhiệm sử dụng nguồn lực.
Cơ chế này cũng tính đến đặc thù bất định của hoạt động nghiên cứu và phát triển. Một bài toán công nghệ có thể được triển khai theo nhiều phương án nghiên cứu độc lập. Sau mỗi mốc đánh giá, phương án có triển vọng sẽ được tiếp tục, trong khi phương án không hiệu quả có thể được điều chỉnh hoặc dừng.
Để xử lý những thay đổi không lường trước trong quá trình thực hiện các dự án kéo dài nhiều năm, Thông tư bố trí 10% kinh phí dự phòng từ tổng kinh phí ngân sách Nhà nước.
Tổ chức chủ trì cũng có thể ứng trước nguồn kinh phí hợp pháp để triển khai ngay những nội dung cấp bách trong thời gian chờ ngân sách Nhà nước cấp.
Kinh phí đối ứng cũng được mở rộng theo hướng không chỉ tính bằng tiền. Máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ và nhân lực đều có thể được tính vào nguồn lực đối ứng. Quy định này mở rộng khả năng hợp tác giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp.
300 triệu đồng/tháng cho Tổng công trình sư
Cùng với thay đổi cách phân bổ và kiểm soát nguồn lực, Thông tư 49 đưa ra cơ chế mới về chi cho con người trong các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Mức thù lao được xác định theo vị trí, trách nhiệm, sản phẩm đầu ra và thời gian tham gia thực hiện dự án. Trong đó, mức trần cao nhất đối với chức danh Tổng công trình sư là 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ là 150 triệu đồng/tháng. Các thành viên chính, thành viên, thư ký khoa học và kỹ thuật viên được áp dụng mức tương ứng với vai trò đảm nhiệm.
Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán, không phải mức chi mặc định cho mọi nhiệm vụ. Mức chi cụ thể phải căn cứ vào tính chất công việc, năng lực của cá nhân, thời gian tham gia và yêu cầu về sản phẩm đầu ra.
Mức 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư được tham chiếu từ mức chi trả của A*STAR Singapore (Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore), sau đó tính toán theo hệ số sức mua tương đương giữa hai quốc gia và điều chỉnh theo mức độ khan hiếm nguồn nhân lực.
Cùng với đội ngũ thực hiện thường xuyên, nhiệm vụ còn có thể thuê chuyên gia trong nước và quốc tế theo cơ chế thỏa thuận. Trong trường hợp thông thường, mức thuê tối đa có thể bằng mức của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Trường hợp đặc biệt, mức thuê có thể cao hơn và phải có quyết định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.
Việc thuê chuyên gia được xác định trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, phạm vi công việc, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế.
Chấp nhận thất bại khoa học, không chấp nhận sai phạm
Trao quyền tự chủ và chấp nhận rủi ro là một nội dung quan trọng khác trong cơ chế tài chính mới.
Một phương án nghiên cứu không đạt kết quả dự kiến không đồng nghĩa với việc nguồn lực đã sử dụng bị xem là sai phạm, nếu nhiệm vụ được triển khai đúng quy trình, đầy đủ thủ tục, minh bạch, trung thực và có đầy đủ bằng chứng. Trong trường hợp đó, rủi ro khoa học có thể được chấp nhận.
Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro khoa học hoàn toàn khác với chấp nhận sai phạm trong quản lý và sử dụng nguồn lực.
Việc thực hiện nhiệm vụ được theo dõi trên nền tảng số quốc gia. Hằng tháng, các đơn vị chủ trì có trách nhiệm cung cấp tình hình và kết quả thực hiện trên nền tảng này, qua đó cơ quan quản lý có điều kiện theo dõi, đánh giá gián tiếp tính khả thi của quá trình nghiên cứu.
Tinh thần của cơ chế mới, như ông Đào Ngọc Chiến nhấn mạnh, là chấp nhận rủi ro để tạo không gian cho đổi mới nhưng đồng thời phải quản trị rủi ro để bảo toàn nguồn lực công.
Với cách tiếp cận này, Thông tư 49 đặt trọng tâm vào việc Nhà nước đầu tư cho những mục tiêu công nghệ có mức độ ưu tiên và rủi ro khác nhau, đồng thời tạo cơ chế để nguồn lực được tiếp tục phân bổ dựa trên kết quả thực tế. Đối với những công nghệ có ý nghĩa đặc biệt nhưng rủi ro cao, ngân sách có thể hỗ trợ tối đa 100%; khi sản phẩm tiến gần hơn đến ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa, nguồn lực xã hội được huy động với mức ngân sách hỗ trợ tối đa 70%.
Cùng với đó, cơ chế chi cho nhân lực, thuê chuyên gia, dự phòng kinh phí, đối ứng bằng tài sản và theo dõi trên nền tảng số tạo thành một hệ thống quản lý theo hướng trao quyền nhiều hơn cho tổ chức nghiên cứu nhưng gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình và hậu kiểm.



















Đề xuất cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học
Dữ liệu khoa học cần được kết nối để trở thành nguồn lực nghiên cứu
Giải quyết 30 bài toán lớn của Thủ đô: Hà Nội dự kiến hỗ trợ 100 nghiên cứu sinh trong năm 2026
Nghiên cứu mới giải mã một phần cơ chế phát triển đặc biệt của não người
Nữ tiến sĩ trở về Việt Nam, theo đuổi nghiên cứu dữ liệu và AI cho nông nghiệp
Cùng chuyên mục
Green SM và Long Châu triển khai giao hàng bằng xe máy điện tại hơn 1.500 nhà thuốc
Kinh phí nghiên cứu công nghệ chiến lược điều chỉnh theo gói công việc và mốc giá
Nữ trí thức Hải Phòng kết nối tri thức y tế với chăm sóc sức khỏe phụ nữ
Xử lý hình sự vi phạm sở hữu trí tuệ tăng mạnh trong tháng 8
Diễn đàn Việt Nam - Nga tìm hướng hợp tác công nghệ chiến lược
Dữ liệu khoa học cần được kết nối để trở thành nguồn lực nghiên cứu