Exosome nhỏ hơn rất nhiều so với một tế bào. Những túi màng cực nhỏ này được tế bào giải phóng ra môi trường xung quanh và có thể mang theo protein, lipid cùng nhiều phân tử sinh học. Với TS. Thân Thị Trang Uyên, khả năng vận chuyển tự nhiên ấy đặt ra một câu hỏi khác: liệu exosome có thể được “thiết kế lại” để mang tác nhân điều trị đến mục tiêu mong muốn?
Từ tháng 12/2025, TS. Thân Thị Trang Uyên chủ trì một đề tài NAFOSTED phát triển exosome thành hệ tải thuốc đặc hiệu đích cho ung thư phổi không tế bào nhỏ. Dự án kéo dài đến cuối tháng 11/2028, vì vậy nghiên cứu hiện vẫn đang ở giai đoạn phát triển nền tảng, chưa phải một liệu pháp điều trị đã hoàn thiện hay được thử nghiệm trên bệnh nhân.
Phần việc mà nữ nhà khoa học đang theo đuổi gồm nhiều lớp: lựa chọn nguồn exosome, đưa tác nhân điều trị vào trong túi ngoại bào, gắn peptide có khả năng hướng đích lên màng và tích hợp exosome vào hydrogel để kiểm soát quá trình giải phóng. Mỗi bước đều liên quan trực tiếp tới câu hỏi một vật mang thuốc có thể được kiểm soát đến mức nào trước khi tiến tới những thử nghiệm xa hơn.
![]() |
| Các giảng viên, nhà nghiên cứu và người tham dự hội thảo “Nuôi dưỡng Câu hỏi Nghiên cứu của Bạn” tại VinUni ngày 22/11/2025. TS. Thân Thị Trang Uyên là một trong hai người điều phối chương trình. Ảnh: VinUni. |
Cùng là exosome nhưng nguồn tế bào tạo ra khác biệt
Muốn dùng exosome làm phương tiện vận chuyển, trước hết phải hiểu chính vật mang đó. Nghiên cứu công bố tháng 3/2026 của TS. Thân Thị Trang Uyên và đồng tác giả Nguyễn Thu Huyền, so sánh exosome được giải phóng từ ba loại tế bào gồm tế bào gốc từ răng sữa rụng, nguyên bào sợi và tế bào gốc trung mô dây rốn.
Ba nguồn tế bào không tạo ra những quần thể exosome giống nhau. Trong điều kiện thí nghiệm, tế bào gốc trung mô dây rốn giải phóng số hạt nhiều nhất. Hơn 90% số hạt được phát hiện nằm trong khoảng 30–350 nm, với các đỉnh phân bố tập trung ở khoảng 130–180 nm. Hàm lượng một số yếu tố tăng trưởng như FGF-2, HGF, PDGF-BB và VEGF-A cũng thay đổi giữa các nguồn tế bào.
Khác biệt ấy có ý nghĩa khi exosome được tính tới như một hệ mang thuốc. Nguồn tế bào không đơn thuần quyết định thu được bao nhiêu exosome mà còn liên quan đến thành phần sinh học mà chúng mang theo. Việc lựa chọn nguồn vì thế trở thành một phần của thiết kế hệ vận chuyển, thay vì một công đoạn có thể thay thế tùy ý.
TS. Thân Thị Trang Uyên nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Y sinh tại Đại học Công nghệ Queensland, Australia, năm 2017. Sau khi gia nhập Vinmec năm 2017, bà làm việc tại VinUni từ năm 2024 và hiện là Giám đốc Phòng thí nghiệm Trung tâm của Viện Nghiên cứu Miễn dịch Vinmec–VinUni, đồng thời giữ vị trí Trợ lý giáo sư. Các hướng nghiên cứu chính gồm tế bào gốc trung mô, exosome, y học tái tạo và hệ thống dẫn truyền thuốc.
![]() |
| TS .Thân Thị Trang Uyên, Giám đốc Phòng thí nghiệm Trung tâm, Viện Nghiên cứu Miễn dịch Vinmec–VinUni. Ảnh: VinUni. |
Một mắt xích khác là làm sao thu nhận được exosome có đặc điểm đủ rõ để tiếp tục nghiên cứu. Công trình đăng trên Tạp chí Y Dược học Quân sự ngày 28/7/2026, với TS. Thân Thị Trang Uyên là đồng tác giả, đã tách exosome từ tế bào gốc trung mô dây rốn sơ cấp bằng siêu ly tâm vi sai và đánh giá bằng kính hiển vi điện tử truyền qua, Western Blot cùng kỹ thuật đo xung điện trở.
Exosome thu được có hình thái dạng cốc, mang các dấu ấn CD63 và CD9, kích thước trung bình 79 ± 19,5 nm. Nhóm nghiên cứu kết luận mẫu có những đặc tính điển hình của exosome và phù hợp để tiếp tục thử nghiệm. Kết quả này giải quyết một công đoạn kỹ thuật cần thiết, nhưng không đồng nghĩa exosome đã được chứng minh có khả năng đưa thuốc tới khối u hoặc tạo hiệu quả điều trị ung thư ở người.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng với những nghiên cứu nằm giữa sinh học cơ bản và ứng dụng y học. Từ một quần thể exosome đã được phân lập, xác định kích thước và dấu ấn đến một hệ vận chuyển thuốc hướng đích còn nhiều bước: lựa chọn hoạt chất, xác định cách nạp thuốc, kiểm tra độ ổn định, khả năng nhận diện mục tiêu, sự giải phóng hoạt chất và sau đó mới tới các mô hình đánh giá hiệu quả và an toàn phù hợp.
Từ một túi ngoại bào đến hệ mang thuốc có thể kiểm soát
Cách tiếp cận hiện nay của TS. Thân Thị Trang Uyên tập trung vào ba hướng kỹ thuật khá cụ thể. Tác nhân điều trị được đưa vào bên trong exosome; peptide có khả năng nhận biết mục tiêu được gắn lên màng; exosome có thể được tích hợp vào hydrogel để kiểm soát tốc độ giải phóng. Những kỹ thuật này cho thấy bài toán không nằm ở việc chỉ “có exosome”, mà ở khả năng can thiệp vào cấu trúc và cách hoạt động của chúng.
Với một hệ tải thuốc, việc mang được hoạt chất mới chỉ là một yêu cầu. Vật mang còn phải giữ được đặc tính cần thiết trong quá trình chuẩn bị, đưa được lượng tác nhân phù hợp tới vị trí mong muốn và giải phóng chúng trong điều kiện có thể kiểm soát. Những câu hỏi ấy giải thích vì sao các nghiên cứu về nguồn tế bào, đặc trưng kích thước hay quy trình phân lập không phải những phần việc tách rời mà tạo thành nền kỹ thuật cho hướng nghiên cứu dài hơn.
![]() |
| Khu vực sản xuất tế bào đạt chuẩn của Viện Nghiên cứu Tế bào gốc và Công nghệ Gen Vinmec–VinUniversity. Cơ sở có hạ tầng phục vụ các sản phẩm tế bào và túi ngoại bào. Ảnh: Vinmec–VinUniversity. |
Exosome cũng xuất hiện trong những công việc khác của TS. Thân Thị Trang Uyên. Danh sách Seed Grant năm 2026 của VinUni có một dự án do chị chủ trì về vai trò của exosome trong tái lập trình đại thực bào và quá trình dọn dẹp tế bào chết nhằm hỗ trợ lành vết thương. Đây là một đề tài riêng với mục tiêu khác nghiên cứu ung thư phổi, nhưng cho thấy exosome vẫn là trục nghiên cứu đang được nữ nhà khoa học tiếp tục phát triển.
Đề tài về ung thư phổi hiện mới đi chưa đầy một năm trong kế hoạch ba năm. Những kết quả công bố năm 2026 giúp làm rõ một số khâu nền tảng về nguồn tế bào và đặc điểm exosome, trong khi việc biến chúng thành hệ mang thuốc đặc hiệu đích vẫn là phần đang được nghiên cứu. Vì thế, tiến độ của công trình sẽ được thể hiện rõ hơn ở những dữ liệu tiếp theo về khả năng nạp tác nhân điều trị, hướng đích, kiểm soát giải phóng và các bước thử nghiệm phù hợp, thay vì ở một lời hứa sớm về thuốc điều trị ung thư.





















PGS.TS Vũ Thị Thu thử cảm biến trên tế bào ung thư phổi
Y học tái tạo và triển vọng điều trị bệnh bằng tế bào gốc tại Việt Nam
TS. Trần Thị Hiền nghiên cứu thuốc điều trị ung thư từ sữa mẹ
PGS.TS Vũ Bích Ngọc: Người mở những cánh cửa mới của y học tái tạo
Cùng chuyên mục
Những túi sinh học siêu nhỏ có thể mang thuốc tới tế bào ung thư
Từ nghiên cứu dioxin đến hành trình đưa khoa học ra cộng đồng
Nhận diện sớm gen kháng thuốc cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hoài
Từ dương xỉ, PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh tìm hướng hỗ trợ kháng sinh
Từ vật liệu nano đến cảm biến glucose của PGS.TS Trần Thị Luyến
Từ vị trí Phó Giáo sư ở Pháp, Phan Thị Hà Dương trở về Việt Nam làm khoa học