![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao. Ảnh: VNHN |
Năm 1986, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao cùng các cộng sự bắt đầu nghiên cứu các chế phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên nhằm hỗ trợ giải độc cho những người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin. Công trình được đặt trong bối cảnh Việt Nam tìm kiếm những giải pháp hỗ trợ xử lý hậu quả của chất độc hóa học sau chiến tranh.
Đây không phải là nghiên cứu có thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Quá trình theo đuổi hướng nghiên cứu này kéo dài gần 20 năm và nhiều lần gặp khó khăn về kinh phí. Có thời điểm bà muốn dừng lại, nhưng cuối cùng vẫn tiếp tục vì những lý do đã khiến bà bắt đầu công trình, cùng công sức của bản thân và các cộng sự.
Con đường nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao được hình thành từ khá sớm. Bà tốt nghiệp Khoa Hóa, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1971 và Khoa Hóa sinh, Đại học Y khoa Hà Nội năm 1972. Năm 1978, bà được cử sang CHDC Đức làm nghiên cứu sinh về sinh học phân tử. Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, bà trở về nước công tác tại Viện Khoa học Việt Nam.
Trong quá trình công tác, bà từng đảm nhiệm nhiều vị trí nghiên cứu và quản lý, trong đó có Trưởng phòng Enzym học và Phó Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học. Nền tảng về hóa sinh, sinh học phân tử và enzym học trở thành cơ sở để bà cùng các cộng sự theo đuổi hướng tìm kiếm, chiết tách và ứng dụng các hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên trong lĩnh vực y sinh.
Từ những nghiên cứu ban đầu liên quan đến hậu quả của chất độc hóa học sau chiến tranh, nhóm nghiên cứu tiếp tục khảo sát các hoạt chất tự nhiên có khả năng tham gia vào quá trình chống oxy hóa và bảo vệ tế bào. Trong đó, các hoạt chất từ tỏi và gấc được quan tâm trong quá trình tìm kiếm những hợp chất có hoạt tính sinh học.
Quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, với nhiều lần điều chỉnh công thức. Naturenz hình thành từ quá trình đó, sử dụng các thành phần có nguồn gốc tự nhiên, trong đó có enzyme và hoạt chất được chiết xuất từ đu đủ, củ cải, mướp đắng, gấc, lêkima và tỏi.
Một dấu mốc quan trọng của công trình là công thức sản xuất được cấp Bằng độc quyền sáng chế số 4972 ngày 7/6/2005 theo Quyết định A5711/QĐ-ĐK của Cục Sở hữu trí tuệ.
Nghiên cứu sau đó được đưa vào chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước KC.04.17 với công trình “Giải pháp và quy trình công nghệ trong nghiên cứu sản xuất 05 chế phẩm Y sinh học đặc thù từ 15 loại tài nguyên động thực vật Việt Nam”, trong đó PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao là một trong các tác giả.
Một vấn đề quan trọng với các công trình khoa học là làm thế nào để kết quả nghiên cứu không dừng lại ở phòng thí nghiệm. Với Naturenz, quá trình này gắn với sự hợp tác giữa Viện Công nghệ sinh học và Công ty cổ phần Dược Hậu Giang.
Năm 2005, doanh nghiệp đề nghị tiếp nhận đề tài và đồng hành trong việc nghiên cứu, hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất. Sự kết nối giữa đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu tiếp tục được phát triển thành sản phẩm.
Đây cũng là quan điểm được PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao đề cập trong quá trình hoạt động khoa học. Theo bà, nhà khoa học không nên chỉ chờ doanh nghiệp đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường mà cần chủ động hơn trong việc đầu tư, phát triển doanh nghiệp từ những kết quả nghiên cứu có giá trị.
Cách tiếp cận này đặt vấn đề thương mại hóa nghiên cứu trong một chuỗi rộng hơn: từ ý tưởng khoa học, nghiên cứu cơ bản, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến hợp tác sản xuất.
Naturenz là công trình gắn với tên tuổi PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao, nhưng hướng nghiên cứu của bà rộng hơn việc phát triển một sản phẩm.
Trong quá trình công tác, bà tham gia hơn 40 đề tài, dự án khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành và cơ sở; công bố 110 công trình trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Nhóm nghiên cứu của bà có 2 Bằng độc quyền sáng chế và xây dựng 23 quy trình công nghệ chiết xuất các hoạt chất phục vụ nghiên cứu dược phẩm, nhân giống cây, con và các hướng ứng dụng khác.
Một hướng nghiên cứu đáng chú ý là các enzyme có khả năng thủy phân fibrin. Công trình về enzyme từ giun quế Perionyx excavatus được công bố trên Tạp chí Sinh học và tiếp tục được phát triển trong các nghiên cứu về đặc điểm, hoạt tính của nhóm enzyme này.
Một dự án khác tập trung vào streptokinase tái tổ hợp. Kết quả gồm các chủng vi sinh vật tái tổ hợp có khả năng sản xuất streptokinase, chế phẩm enzyme và các công bố khoa học liên quan. Đây là hướng nghiên cứu nhằm tạo chế phẩm enzyme phục vụ nghiên cứu điều trị bệnh tắc nghẽn mạch máu.
Nhóm nghiên cứu cũng tham gia các công trình về hoạt chất từ thực vật. Trong một nghiên cứu về α-mangostin tách từ vỏ quả măng cụt, hợp chất này được tinh sạch với độ sạch 98,6% theo HPLC.
Các công trình cho thấy hướng nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao tập trung vào việc tìm kiếm, chiết tách, đặc trưng hóa và khai thác enzyme, hoạt chất sinh học phục vụ y sinh.
Bên cạnh nghiên cứu, bà còn tham gia đào tạo đội ngũ kế cận, hướng dẫn 5 nghiên cứu sinh, 8 học viên cao học và 10 cử nhân trong quá trình công tác.
Năm 2005, bà được trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, cùng bốn cá nhân khác được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vinh danh.
Điểm đáng chú ý trong hành trình của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao không chỉ nằm ở số lượng công trình hay bằng sáng chế. Với Naturenz, một hướng nghiên cứu bắt đầu từ bài toán hậu quả của chất độc hóa học sau chiến tranh đã trải qua nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ trước khi được doanh nghiệp tiếp nhận để sản xuất.
Chế phẩm từng được thử nghiệm trên 600 lượt cựu chiến binh nhiễm dioxin. Tuy nhiên, các thông tin về kết quả thử nghiệm và công dụng cần được đặt trong đúng bối cảnh của tài liệu thử nghiệm và hồ sơ quản lý sản phẩm, thay vì mở rộng thành khẳng định về hiệu quả điều trị đối với người nhiễm dioxin.
Ở thời điểm hiện nay, Naturenz được giới thiệu dưới nhóm thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Vì vậy, khi đề cập đến sản phẩm, cần phân biệt rõ giữa cách gọi trong một số tài liệu, bài viết trước đây với phân loại sản phẩm hiện hành.
Sau hàng chục năm nghiên cứu, câu chuyện của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao vì thế không chỉ xoay quanh một sản phẩm. Đó còn là hành trình của một nhà khoa học hóa sinh theo đuổi một vấn đề bắt nguồn từ nhu cầu xã hội, khai thác nguồn nguyên liệu trong nước và tìm cách đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với đời sống.
Khoảng cách từ một ý tưởng trong phòng thí nghiệm đến một sản phẩm ứng dụng không thể được rút ngắn chỉ bằng một phát hiện. Đằng sau quá trình đó là nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và sự phối hợp giữa nhà khoa học với doanh nghiệp.






















Bước tiến của nhà khoa học nữ trong thương mại hóa sáng chế
Năm nhà khoa học nữ tiên phong được vinh danh tại Giải thưởng L'Oréal-UNESCO 2026
Nhà khoa học nữ đứng sau những đột phá pin thế hệ mới trở thành lãnh đạo NTU
Gỡ nút thắt để nhà khoa học nữ đưa nghiên cứu ra thị trường
Nhà khoa học nữ và hành trình đưa công nghệ số về ruộng đồng
Những nhà khoa học nữ tuổi Ngọ truyền cảm hứng
Cùng chuyên mục
Từ nghiên cứu dioxin đến hành trình đưa khoa học ra cộng đồng
Nhận diện sớm gen kháng thuốc cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hoài
Từ dương xỉ, PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh tìm hướng hỗ trợ kháng sinh
Từ vật liệu nano đến cảm biến glucose của PGS.TS Trần Thị Luyến
Từ vị trí Phó Giáo sư ở Pháp, Phan Thị Hà Dương trở về Việt Nam làm khoa học
TS Nguyễn Thị Trang lần theo một gen ở rễ lúa