![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh (bên trái) trao đổi tại tọa đàm “Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong phát triển thuốc” do USTH tổ chức tại Hà Nội năm 2025. Ảnh: USTH. |
Một cây dương xỉ có khả năng sống trên những vùng đất giàu kim loại không phải là nơi người ta dễ nghĩ đến khi tìm cách đối phó với vi khuẩn kháng thuốc. Nhưng chính môi trường khắc nghiệt ấy đặt ra một câu hỏi đáng chú ý với nhóm nghiên cứu có PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh, Phó Trưởng khoa Khoa học Sự sống, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH): liệu những hợp chất giúp thực vật thích nghi với môi trường có thể đồng thời làm thay đổi khả năng chống chịu của vi khuẩn hay không?
Hướng đi này phù hợp với chuyên môn mà PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh theo đuổi nhiều năm: phân tích hệ chất chuyển hóa, hay metabolomics, để tìm hiểu các hợp chất tự nhiên và mối liên hệ giữa cấu trúc hóa học với hoạt tính sinh học. USTH hiện ghi nhận PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh là Phó Trưởng khoa Khoa học Sự sống, Phó Giáo sư ngành Dược học; bà tốt nghiệp tiến sĩ Sinh học thực vật tại Đại học Picardie Jules Verne Amiens, Pháp.
Không tìm một chất rồi thử từng chất
Đối tượng mà nhóm nghiên cứu chọn là Pteris vittata L., một loài dương xỉ có khả năng tích lũy kim loại. Cách tiếp cận đáng chú ý không nằm đơn thuần ở việc lấy dịch chiết thực vật rồi thử khả năng diệt khuẩn.
Trong công trình đăng trên Phytochemical Analysis năm 2025, PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh là tác giả đứng đầu đồng thời là tác giả liên hệ. Nhóm sử dụng dữ liệu hệ chất chuyển hóa của cây dương xỉ và mô hình hồi quy bình phương tối thiểu từng phần để tìm mối tương quan giữa toàn bộ hồ sơ hóa học với hoạt tính kháng khuẩn. Những hợp chất được mô hình chỉ ra sau đó mới tiếp tục được kiểm tra bằng các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.
Cách làm này khác với việc lần lượt tách từng chất rồi thử từng chất. Với một mẫu thực vật chứa rất nhiều thành phần hóa học, điều đáng tìm đôi khi không phải một “hoạt chất mạnh nhất”, mà là những chất có thể phối hợp với nhau.
Thử nghiệm được thực hiện với chủng Stenotrophomonas maltophilia K279a. Đây là vi khuẩn cơ hội có thể gây nhiễm trùng bệnh viện, trong đó có những trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng. Nghiên cứu xác nhận chín flavonoid có tác dụng hiệp đồng, làm giảm đáng kể nồng độ ức chế tối thiểu và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu của hai hợp chất có hoạt tính là cyanidin-3,5-O-diglucoside và perlagonin. Cụ thể, các giá trị được báo cáo giảm từ 64 và 108 µg/mL xuống lần lượt 0,25 và 3,38 µg/mL khi có sự phối hợp phù hợp.
Điểm cần giữ rõ ở đây là kết quả mới ở cấp độ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Nó không đồng nghĩa với việc cây dương xỉ đã trở thành thuốc điều trị nhiễm khuẩn hay có thể được người bệnh tự sử dụng.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh nhận quyết định bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư ngành Dược học tại USTH tháng 1/2024. Ảnh: USTH. |
Từ khả năng kháng khuẩn đến hỗ trợ một kháng sinh đang có
Một bước tiếp theo của nhóm giúp câu chuyện thực tế hơn.
Trong công trình đăng trên ChemistrySelect tháng 10/2025, TS Nguyễn Phương Nhung là tác giả đứng đầu, còn PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh là tác giả liên hệ. Việc phân định vai trò này quan trọng, bởi đây là công trình tập thể chứ không phải kết quả của riêng một cá nhân.
Nhóm tiếp tục khảo sát các chất chuyển hóa thứ cấp của Pteris vittata L. nhưng lần này đặt câu hỏi trực tiếp hơn: chúng có thể làm vi khuẩn đa kháng nhạy trở lại với một kháng sinh hay không?
Các nhà nghiên cứu trước hết sử dụng mô phỏng docking phân tử để dự đoán khả năng các chất chuyển hóa liên kết với SmeDEF, một hệ bơm tống thuốc của Stenotrophomonas maltophilia. Có thể hình dung đây là một trong những cơ chế giúp vi khuẩn đẩy các chất bất lợi ra ngoài tế bào, qua đó góp phần làm giảm hiệu quả của thuốc.
Kết quả thử nghiệm cho thấy hai flavonoid là procyanidin C1 và neohesperidin, khi sử dụng ở nồng độ tương ứng 256 và 400 µg/mL, có tác dụng hiệp đồng với levofloxacin. Nồng độ ức chế tối thiểu của kháng sinh đối với chủng vi khuẩn thử nghiệm giảm lần lượt 32 lần và khoảng 21,33 lần. Bản thân các flavonoid này chỉ thể hiện hoạt tính kháng khuẩn yếu; điều đáng chú ý là tác dụng xuất hiện khi chúng được kết hợp với kháng sinh.
Chi tiết này làm thay đổi cách nhìn về dược liệu. Một hợp chất tự nhiên không nhất thiết phải đủ mạnh để thay thế kháng sinh. Giá trị của nó có thể nằm ở vai trò “trợ thủ”, giúp thuốc đang có lấy lại một phần hiệu quả trước vi khuẩn kháng thuốc.
Đó vẫn là một giả thuyết cần nhiều bước nghiên cứu tiếp theo. Từ một kết quả in vitro đến thuốc dùng cho người còn phải qua đánh giá độc tính, dược động học, liều lượng, cơ chế tác động, mô hình động vật và cuối cùng là thử nghiệm lâm sàng. Hai nghiên cứu hiện chưa cung cấp bằng chứng để kết luận về hiệu quả điều trị ở người.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh, khi đó là TS và Phó Trưởng khoa Khoa học Sự sống USTH, trao đổi tại chương trình tư vấn thực tập và việc làm của khoa năm 2022. Ảnh: USTH. |
Một bài toán lớn hơn chuyện tìm thuốc mới
Hướng nghiên cứu này diễn ra trong lúc kháng kháng sinh tiếp tục là một vấn đề y tế toàn cầu. Báo cáo giám sát của Tổ chức Y tế thế giới công bố năm 2025, tổng hợp hơn 23 triệu trường hợp nhiễm khuẩn được xác nhận bằng xét nghiệm, cho biết khoảng một trong sáu ca nhiễm khuẩn phổ biến được xác nhận trong năm 2023 có tình trạng kháng với thuốc kháng sinh điều trị. WHO cũng cho biết tình trạng kháng tăng ở hơn 40% các cặp vi khuẩn - kháng sinh được theo dõi từ năm 2018 đến 2023.
Phụ nữ Mới từng phản ánh biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng kháng thuốc trên toàn cầu. Đọc bài trên Phụ nữ Mới Câu chuyện vì thế không chỉ nằm ở việc chế tạo thêm kháng sinh mới. Giữ được hiệu lực của những thuốc hiện có cũng là một hướng nghiên cứu cần thiết.
Với PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh, điểm đáng chú ý trong chuỗi công việc trên là metabolomics được dùng như một công cụ sàng lọc có định hướng. Thay vì chỉ mô tả cây chứa những chất gì, nhóm nghiên cứu cố gắng nối dữ liệu hóa học với tác dụng sinh học, sau đó quay lại phòng thí nghiệm để kiểm tra những mối liên hệ mà mô hình gợi ra.
USTH cho biết hướng nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh còn bao gồm phát triển các phương pháp thử in vitro, in silico và in vivo, tìm các hoạt chất sinh học và đánh giá chất lượng dược liệu. Nhóm BEAM do PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh đứng đầu cũng tập hợp các chuyên môn từ hóa học chuyển hóa, dược lý học đến hóa học môi trường.





















Xử lý thuốc kháng sinh trong môi trường nước
Biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng kháng thuốc trên toàn cầu
Đưa khoa học ra khỏi phòng thí nghiệm – Lan tỏa cảm hứng hành động vì môi trường và sức khỏe cộng đồng
Nhà khoa học Huế đam mê nghiên cứu dược chất thiên nhiên ứng dụng để chăm sóc sức khỏe con người
Cùng chuyên mục
Nhận diện sớm gen kháng thuốc cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hoài
Từ dương xỉ, PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh tìm hướng hỗ trợ kháng sinh
Từ vật liệu nano đến cảm biến glucose của PGS.TS Trần Thị Luyến
Từ vị trí Phó Giáo sư ở Pháp, Phan Thị Hà Dương trở về Việt Nam làm khoa học
TS Nguyễn Thị Trang lần theo một gen ở rễ lúa
TS Phạm Thị Thu Hà tìm hoạt chất thực vật có thể ức chế cỏ dại