![]() |
| TS Phạm Thị Thu Hà tại Vườn thực nghiệm nông nghiệp thông minh của Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Ảnh: TDTU. |
Một loại cây thường được trồng làm cảnh lại đang gợi ra một câu hỏi khác cho khoa học nông nghiệp: các hợp chất trong lá của nó có thể được khai thác để hạn chế cỏ dại hay không?
Trong nghiên cứu đăng trên Scientific Reports ngày 28/7/2026, một nhóm tác giả đã phân tích lá Jatropha podagrica Hook., ở Việt Nam thường được gọi là dầu lai có củ, dầu lai lá sen hay ngô đồng cảnh. TS Phạm Thị Thu Hà, nghiên cứu viên của Trường Đại học Tôn Đức Thắng, được bài báo xác định là tác giả liên hệ.
Điểm đáng chú ý không nằm ở việc tìm thấy một chất đơn lẻ. Bằng sắc ký khí ghép khối phổ GC–MS, nhóm nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 60 hợp chất trong dịch chiết methanol và các phân đoạn dung môi của lá. Khi đem các phân đoạn này thử trên cây thí nghiệm, một số mẫu thể hiện khả năng ức chế rõ sự phát triển của cỏ lồng vực – loại cỏ phổ biến trong ruộng lúa.
Tách từng phân đoạn để tìm phần hoạt tính mạnh
Lá dầu lai có củ sau khi làm khô được chiết bằng methanol. Nhóm nghiên cứu sau đó phân đoạn dịch chiết bằng hexane, ethyl acetate và nước nhằm xem hoạt tính sinh học tập trung ở phần nào.
Kết quả cho thấy phân đoạn ethyl acetate chứa hàm lượng phenolic tổng cao nhất, đạt 41,79 mg GAE trên mỗi gram khối lượng khô. Phân đoạn này đồng thời thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất trong các phép thử DPPH và ABTS. Hàm lượng phenolic càng cao thì giá trị IC50 trong hai phép thử càng thấp, với hệ số tương quan lần lượt là -0,909 và -0,965.
Con số ấy giúp nhóm tác giả nối được hai lớp dữ liệu: thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Nhưng giá trị đáng quan tâm hơn đối với nông nghiệp xuất hiện khi các phân đoạn được thử về khả năng gây ức chế sinh trưởng thực vật.
![]() |
| TS Phạm Thị Thu Hà giới thiệu hoạt động nghiên cứu về giống cây trồng tại một sự kiện khoa học. Ảnh: TDTU. |
Cỏ lồng vực, Echinochloa crus-galli, là đối tượng đặc biệt đáng chú ý bởi đây là một trong những loại cỏ cạnh tranh mạnh với cây lúa. Trong thí nghiệm, khả năng nảy mầm của hạt cỏ không bị giảm quá lớn, nhưng sự phát triển của cây con lại nhạy hơn.
Ở nồng độ 3 mg/mL, phân đoạn ethyl acetate làm giảm khoảng 30,88% chiều dài chồi và 98,10% chiều dài rễ cỏ lồng vực so với đối chứng. Phân đoạn hexane ở cùng nồng độ cũng làm giảm 93,14% chiều dài rễ.
Đây là khoảng cách cần giữ rất rõ khi chuyển một bài báo khoa học thành bài báo phổ thông. Kết quả trên cho thấy hoạt tính ức chế trong điều kiện thử nghiệm, chưa chứng minh rằng chiết xuất từ dầu lai có củ có thể được đưa thẳng ra ruộng hay thay thế thuốc trừ cỏ.
60 hợp chất mới chỉ là điểm xuất phát
Phân tích GC–MS cho thấy 60 hợp chất thuộc nhiều nhóm hóa học khác nhau như acid, alcohol, ester, ketone, alkaloid và một số chất chuyển hóa thứ cấp khác. Tuy nhiên, các hợp chất trong nghiên cứu mới được nhận diện sơ bộ bằng đối chiếu thư viện phổ, không đồng nghĩa toàn bộ đã được phân lập, xác nhận cấu trúc và chứng minh riêng từng cơ chế tác động.
Chính điểm này quyết định cách hiểu kết quả. Thay vì gọi đây là “thuốc diệt cỏ tự nhiên”, phù hợp hơn là xem dầu lai có củ như một nguồn ứng viên hóa học cần được sàng lọc tiếp.
Nếu xác định được hợp chất nào thực sự chịu trách nhiệm cho tác dụng ức chế cỏ, các bước tiếp theo còn phải đánh giá độ chọn lọc với cây trồng, độc tính, khả năng phân hủy trong môi trường, liều sử dụng và hiệu quả ngoài thực địa.
Ở hướng nghiên cứu dược liệu, khoảng cách từ phát hiện hoạt tính đến sản phẩm cũng tương tự. Những công trình về dấu vân tay hóa học của Trà hoa vàng từng cho thấy việc nhận diện thành phần mới chỉ là một lớp bằng chứng để xây dựng cơ sở khoa học cho nguồn nguyên liệu.
Một hướng nghiên cứu kéo dài từ giống cây đến hợp chất sinh học
TS Phạm Thị Thu Hà tốt nghiệp tiến sĩ ngành Di truyền và Chọn giống tại Đại học Hiroshima, Nhật Bản. Theo hồ sơ mới nhất của Trường Đại học Tôn Đức Thắng, bà làm việc tại trường từ năm 2018; giai đoạn 2018–2022 từng giữ vị trí Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Di truyền và Giống. Từ năm 2022, bà thực hiện nghiên cứu tại Đại học Queensland, Australia, đồng thời tiếp tục là nghiên cứu viên cộng tác của TDTU.
Hồ sơ của trường ghi nhận TS Hà đã công bố 52 bài báo quốc tế thuộc WoS/Scopus, 31 bài trong nước, hai chương sách quốc tế và tham gia 17 đề tài, dự án. Các hướng nghiên cứu trải từ di truyền, chọn tạo giống cây trồng, giống kháng bệnh và chọn giống nhanh đến công nghệ nano trong nông nghiệp.
Trước đó, bà đã theo đuổi nghiên cứu giống lúa chịu mặn bằng chỉ thị phân tử. Vì vậy, công trình mới về hợp chất sinh học từ thực vật không phải một câu chuyện tách rời, mà nằm trong mạch rộng hơn về cây trồng và các giải pháp nông nghiệp bền vững.
![]() |
| Hình ảnh TS Phạm Thị Thu Hà trong hoạt động giới thiệu nghiên cứu khoa học năm 2019. Trên màn hình phía sau có hình bà tại khu thực nghiệm cây trồng. Ảnh: TDTU. |
Nghiên cứu này cũng chạm đến một bài toán lớn hơn của nông nghiệp bền vững: giảm phụ thuộc vào hóa chất nhưng không thể đánh đổi bằng những giải pháp “tự nhiên” chưa được kiểm chứng đầy đủ.
Tương tự, việc khai thác nguồn hợp chất có hoạt tính sinh học từ thực vật chỉ có giá trị lâu dài khi xác định được thành phần, cơ chế, mức an toàn và khả năng phát triển thành sản phẩm.
Với dầu lai có củ, dữ liệu hiện có mới mở cánh cửa đầu tiên. Con số 98,1% đủ gây chú ý, nhưng giá trị khoa học của nghiên cứu nằm ở chỗ hẹp hơn và chắc chắn hơn: xác định được một phân đoạn thực vật có hoạt tính mạnh để tiếp tục truy tìm những hợp chất thực sự hữu ích.





















NCS Nguyễn Phương Nhị tìm “dấu vân tay” hóa học của Trà hoa vàng
GS.TS Lê Mai Hương: Nguồn dược liệu trong nước có giá trị lớn, nhưng việc khai thác, phát triển sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này vẫn còn hạn chế
ThS. Lê Thị Mỹ Hảo: "Muốn nông nghiệp bền vững, phải coi đất là một cơ thể sống"
Dấu vết trong đất mở hướng nhận diện nguồn gốc nông sản
Cùng chuyên mục
TS Phạm Thị Thu Hà tìm hoạt chất thực vật có thể ức chế cỏ dại
TS. Vũ Thị Mơ cùng cộng sự tạo 50.000 cây giống rong Bắp sú
Tạo hạt nano từ tơ tằm, bảo vệ hoạt chất chống oxy hóa trước nhiệt độ cao kéo dài
Nữ dược sĩ đưa hoạt chất dược liệu Việt qua rào cản hấp thu
Nữ tiến sĩ trở về Việt Nam, theo đuổi nghiên cứu dữ liệu và AI cho nông nghiệp
TS. Đặng Thị Lệ Hằng: Từ phòng thí nghiệm đến năng lực làm chủ công nghệ