Berberin là hoạt chất quen thuộc trong nhiều cây thuốc và bài thuốc truyền thống. Tuy nhiên, khi sử dụng theo đường uống, hoạt chất này gặp một trở ngại lớn: độ tan trong nước thấp và khả năng hấp thu qua đường tiêu hóa hạn chế.
Đó là lý do PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân, giảng viên Khoa Khoa học Sự sống, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, theo đuổi hướng nghiên cứu các hệ đưa thuốc tiên tiến. Thay vì chỉ tìm thêm hoạt chất mới, nhóm của bà tập trung giải quyết một câu hỏi thực tế hơn: làm thế nào để hoạt chất đã có tiềm năng được đưa vào cơ thể ổn định và hiệu quả hơn?
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân, giảng viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, theo đuổi nghiên cứu các hệ đưa thuốc tiên tiến. Ảnh: USTH. |
Từ hoạt chất có tiềm năng đến bài toán hấp thu
Theo hồ sơ chuyên môn của USTH, PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân tốt nghiệp Dược sĩ tại Đại học Dược Hà Nội năm 2010, nhận bằng thạc sĩ năm 2013 và bằng tiến sĩ ngành Dược học tại Đại học Ajou, Hàn Quốc, năm 2017.
Hướng nghiên cứu chính của bà gồm bào chế hệ đưa thuốc nano, cải thiện sinh khả dụng của hoạt chất và phát triển các hệ kiểm soát giải phóng. “Sinh khả dụng” có thể hiểu là tỷ lệ hoạt chất thực sự đi vào tuần hoàn và có khả năng phát huy tác dụng sau khi được đưa vào cơ thể.
Với nhiều hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên, vấn đề không nằm ở việc thiếu giá trị sinh học mà ở chỗ hoạt chất khó tan, khó đi qua màng tế bào hoặc bị phân hủy trong quá trình tiêu hóa. Nếu không giải quyết được khâu này, kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rất khó tiến thêm đến các dạng bào chế có khả năng sử dụng thực tế.
Cách tiếp cận này cũng tương đồng với hướng phát triển công nghệ cao nâng giá trị thảo dược Việt Nam, trong đó công nghệ không thay thế nguồn dược liệu mà giúp kiểm soát, chuẩn hóa và khai thác tốt hơn các hoạt chất trong nguyên liệu.
Đưa berberin vào hạt nano rồi phun sấy
Trong công trình công bố trên tạp chí Current Pharmaceutical Design năm 2023, PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân cùng các cộng sự nghiên cứu hệ hạt nano lipid rắn chứa berberin.
Nhóm sử dụng kỹ thuật siêu âm để tạo các hạt nano lipid rắn mang hoạt chất. Sau đó, hệ này được chuyển sang dạng bột bằng công nghệ phun sấy. Đây là bước có ý nghĩa quan trọng vì hệ nano ở dạng lỏng thường khó bảo quản, vận chuyển và tích hợp vào quy trình sản xuất thuốc.
Quá trình nghiên cứu tập trung đánh giá nhiều yếu tố, gồm kích thước và hình thái hạt, trạng thái tinh thể của berberin, mức độ hoạt chất được giữ trong hệ nano cũng như khả năng giải phóng hoạt chất trong điều kiện mô phỏng đường tiêu hóa.
Về nguyên lý, lớp lipid có thể tạo ra một môi trường bảo vệ hoạt chất, giúp hạn chế một phần tác động bất lợi của môi trường tiêu hóa. Khi được phun sấy thành bột, hệ đưa thuốc cũng có thêm ưu điểm về độ ổn định và tính thuận tiện trong các bước bào chế tiếp theo.
![]() |
| Nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân tập trung phát triển các hệ mang hoạt chất nhằm cải thiện khả năng hấp thu và kiểm soát giải phóng thuốc. Ảnh tư liệu: USTH. |
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa kết quả nghiên cứu công thức và một sản phẩm thuốc hoàn chỉnh. Công trình này cho thấy nhóm đã phát triển và đánh giá một hệ mang berberin ở quy mô nghiên cứu. Điều đó chưa đồng nghĩa với việc đã có thuốc được thử nghiệm lâm sàng hoặc được cấp phép điều trị trên người.
Đây cũng là điểm thường bị bỏ qua khi nói về công nghệ nano trong dược phẩm. Một công thức có kích thước hạt phù hợp hoặc cho kết quả tốt trong thử nghiệm in vitro vẫn cần trải qua nhiều bước đánh giá hơn trước khi có thể trở thành sản phẩm thương mại.
Sáng chế bảo vệ quy trình, không thay thế kiểm nghiệm
Năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ công bố bằng độc quyền sáng chế số 48598 cho quy trình bào chế hạt nano lipid rắn chứa berberin clorid dạng bột phun sấy. Sáng chế ghi nhận giải pháp kỹ thuật của quy trình, trong đó berberin được tích hợp vào hệ nano lipid rắn rồi chuyển thành dạng bột.
Việc được bảo hộ sáng chế có ý nghĩa ở khía cạnh sở hữu trí tuệ. Nó giúp xác lập quyền đối với giải pháp kỹ thuật và tạo cơ sở cho các bước tiếp theo như hoàn thiện quy trình, tìm đối tác phát triển hoặc chuyển giao công nghệ.
Nhưng bằng sáng chế không phải là giấy phép lưu hành thuốc. Để đi đến sản phẩm sử dụng cho người, công thức còn cần được đánh giá về độ ổn định, độ tinh khiết, an toàn, dược động học, độc tính và hiệu quả trong các mô hình phù hợp. Nếu hướng tới thuốc điều trị, các yêu cầu tiền lâm sàng và lâm sàng vẫn là những chặng bắt buộc.
Cách nhìn thận trọng này rất cần thiết trong quá trình mở lại một công bố quốc tế để thấy tiềm năng của khoa học Việt Nam. Một phát hiện mới có thể mở ra hướng nghiên cứu quan trọng, nhưng không nên bị diễn giải thành sản phẩm điều trị khi bằng chứng chưa đủ.
![]() |
| Sản phẩm nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân được giới thiệu tại Triển lãm Thành tựu Đất nước “80 năm Hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Ảnh: USTH. |
Mở rộng từ berberin sang dược liệu Việt
Berberin không phải hướng nghiên cứu duy nhất của PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân. Danh mục công bố của bà còn có các nghiên cứu về hệ đưa thuốc chứa rutin, hệ nano lipid mang berberin, hệ đưa dịch chiết rau má qua da và các dạng bào chế kiểm soát giải phóng.
Trong đó, nghiên cứu về ethosome chứa rutin được công bố năm 2025 tập trung vào khả năng tăng độ biến dạng của hệ mang thuốc và đánh giá khả năng thấm qua màng trong điều kiện in vitro. Rutin là một hợp chất có trong nhiều nguồn dược liệu, nhưng độ tan và khả năng thấm qua da vẫn là những yếu tố cần được cải thiện nếu muốn phát triển dạng bào chế dùng ngoài.
Những nghiên cứu như vậy cho thấy hướng đi của nhóm không dừng ở một hoạt chất riêng lẻ. Mục tiêu rộng hơn là xây dựng các phương pháp bào chế có thể áp dụng cho nhiều hợp chất tự nhiên khác nhau, trong đó có các hoạt chất từ nguồn dược liệu Việt Nam.
Đây là hướng nghiên cứu có giá trị trong bối cảnh Việt Nam sở hữu nguồn cây thuốc phong phú nhưng phần lớn sản phẩm vẫn tập trung ở dạng nguyên liệu thô, cao chiết hoặc thực phẩm bổ sung. Để nâng giá trị, cần đồng thời chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, xác định hoạt chất, kiểm soát chất lượng và phát triển dạng bào chế phù hợp.
![]() |
| Hoạt động giảng dạy của PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH. |
Ba tầng kiểm chứng trước khi thành thuốc
Một hệ đưa thuốc nano muốn đi đến sản phẩm cần vượt qua ít nhất ba tầng kiểm chứng.
- Tầng đầu tiên là đặc tính công thức: kích thước hạt, độ ổn định, khả năng giữ và giải phóng hoạt chất.
- Tầng thứ hai là kiểm chứng sinh học, gồm độ an toàn, khả năng hấp thu và tác động trong các mô hình phù hợp.
- Tầng thứ ba là kiểm chứng sản xuất và pháp lý, bao gồm khả năng mở rộng quy mô, kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn nguyên liệu và hồ sơ cấp phép.
Vì vậy, kết quả in vitro hoặc một bằng sáng chế mới chỉ là nền tảng kỹ thuật. Nó có thể mở đường cho phát triển sản phẩm, nhưng chưa thể thay thế bằng chứng tiền lâm sàng, lâm sàng và giấy phép lưu hành.
Nguồn: USTH, Cục Sở hữu trí tuệ và công bố khoa học của nhóm nghiên cứu
Link nguồn: https://usth.edu.vn/nguyen-hong-van-17343/
Khoa học không dừng ở một hạt nano
Giá trị của công trình do PGS.TS. Nguyễn Hồng Vân theo đuổi nằm ở việc giải quyết một mắt xích cụ thể trong chuỗi phát triển dược phẩm: đưa hoạt chất đến đúng nơi và ở dạng phù hợp hơn.
Từ một hợp chất có nguồn gốc tự nhiên, nhóm nghiên cứu đã phát triển hệ nano lipid rắn, tiếp tục chuyển sang dạng bột phun sấy và đăng ký bảo hộ giải pháp kỹ thuật. Chặng đường phía trước vẫn còn nhiều yêu cầu kiểm chứng, nhưng đây là một ví dụ cho thấy nghiên cứu ứng dụng không nhất thiết bắt đầu bằng việc tìm ra một hoạt chất hoàn toàn mới.
Đôi khi, đổi mới nằm ở cách làm cho một hoạt chất quen thuộc trở nên ổn định hơn, dễ bào chế hơn và có cơ hội tiến gần hơn tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe thực tế.






















Công nghệ cao nâng giá trị thảo dược Việt Nam
Mở lại một công bố quốc tế để thấy tiềm năng của khoa học Việt Nam
Dùng tín hiệu ánh sáng nhận biết hai thuốc bảo vệ thực vật
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Biến phụ phẩm thành giá trị, đưa chế biến sâu về vùng nguyên liệu
Cùng chuyên mục
Nữ dược sĩ đưa hoạt chất dược liệu Việt qua rào cản hấp thu
Nữ tiến sĩ trở về Việt Nam, theo đuổi nghiên cứu dữ liệu và AI cho nông nghiệp
TS. Đặng Thị Lệ Hằng: Từ phòng thí nghiệm đến năng lực làm chủ công nghệ
Dấu vết trong đất mở hướng nhận diện nguồn gốc nông sản
NCS Võ Hoàng Minh Thư tìm điều kiện hữu hạn trong vành chia
TS Anh Hoang-Lindsay đưa protein tơ thành thiết bị y tế