![]() |
| TS. Đặng Thị Lệ Hằng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tại buổi gặp mặt các Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu với Thủ tướng Phạm Minh Chính ngày 26/3. Ảnh: Nam Trần |
Với TS. Đặng Thị Lệ Hằng, một công trình khoa học không chỉ được đo bằng số bài báo hay bằng sáng chế, mà ở khả năng tạo dựng nền tảng học thuật, làm chủ công nghệ và đào tạo thế hệ kế tiếp.
Là một trong 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2025, TS. Đặng Thị Lệ Hằng có quan điểm rõ ràng về giá trị của khoa học: kết quả của một công trình không nên dừng lại ở phòng thí nghiệm.
Hiện giữ vị trí Phó trưởng phòng Công nghệ Vật liệu Y sinh, Viện Công nghệ tiên tiến (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), TS. Đặng Thị Lệ Hằng được vinh danh trong danh sách 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2025. Giải thưởng nhằm tôn vinh những cá nhân xuất sắc, đại diện cho trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ Việt Nam, đồng thời lan tỏa các giá trị tích cực, truyền cảm hứng và tinh thần dấn thân vì cộng đồng, đất nước.
Dấu ấn chuyên môn của TS. Đặng Thị Lệ Hằng thể hiện qua 46 công bố khoa học quốc tế, trong đó có 20 bài với vai trò tác giả chính. TS. Đặng Thị Lệ Hằng cũng đã xuất bản 2 đầu sách, gồm 1 cuốn với vai trò tác giả và 1 cuốn đồng chủ biên, đồng thời sở hữu 3 bằng độc quyền sáng chế.
Trước đó, TS. Đặng Thị Lệ Hằng nhận Giải thưởng Khoa học Công nghệ Quả Cầu Vàng, cùng các danh hiệu Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác và Tuổi trẻ sáng tạo năm 2025.
Những con số trên chưa phải điều TS. Đặng Thị Lệ Hằng xem là quan trọng nhất. Động lực gắn bó với phòng thí nghiệm đến từ mong muốn tạo ra những điều mới mẻ, có thể là một vật liệu mới hoặc cách tiếp cận mới nhằm giải quyết các vấn đề thực tế.
Một trong những hướng chuyên môn được TS. Đặng Thị Lệ Hằng theo đuổi là thiết kế các hệ mang thuốc thông minh. Thay vì đưa thuốc vào cơ thể và chờ dược chất tác động đến vị trí cần thiết, các hệ này được thiết kế để kiểm soát quá trình giải phóng, đưa thuốc với liều lượng phù hợp đến đúng vị trí.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều loại thuốc, đặc biệt là thuốc điều trị ung thư, có chi phí cao và tác dụng phụ lớn. Việc kiểm soát tốt hơn hành trình của thuốc được kỳ vọng giúp tăng tính chính xác trong quá trình điều trị.
Từ vật liệu, nhóm của TS. Đặng Thị Lệ Hằng từng bước mở rộng sang các hướng ứng dụng khác. Năm 2019, TS. Đặng Thị Lệ Hằng cùng các cộng sự bắt đầu tìm hiểu vật liệu xúc tác sinh học. Quá trình làm việc và tiếp xúc với doanh nghiệp giúp nhóm nhận diện rõ hơn những hạn chế của phương pháp hiện có cũng như các vấn đề cần giải quyết.
Trên cơ sở đó, nhóm tập trung chức năng hóa vật liệu, hướng tới khả năng thay thế enzyme tự nhiên trong quá trình tổng hợp các hợp chất có hoạt tính sinh học. Nền tảng này sau đó được phát triển theo nhiều hướng, trong đó có tổng hợp các hợp chất sinh học và phát triển vật liệu hydrogel y sinh phục vụ băng vết thương, hỗ trợ điều trị các khuyết tật xương.
Quá trình này đã hình thành một cụm gồm 6 sáng chế. Trong đó, 3 sáng chế đã được cấp bằng độc quyền sáng chế và đang được xúc tiến thương mại hóa; 3 sáng chế còn lại đang trong quá trình thẩm định. Đây mới là những bước đầu trong quá trình xây dựng nền tảng khoa học và kỹ thuật mà TS. Đặng Thị Lệ Hằng hướng tới.
"Tôi không kỳ vọng một nghiên cứu có thể ngay lập tức giải quyết những vấn đề lớn của đất nước. Với tôi, đóng góp thiết thực hơn là từng bước tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Nếu có thể làm chủ một phần công nghệ vật liệu sinh học, xây dựng được nền tảng nghiên cứu đủ mạnh và đào tạo những người trẻ có khả năng tiếp tục phát triển, những điều đó sẽ góp phần nâng cao năng lực tự chủ khoa học và công nghệ của Việt Nam", TS. Đặng Thị Lệ Hằng bày tỏ.
![]() |
| Tiến sĩ Đặng Thị Lệ Hằng - Phó Trưởng phòng, Phòng Công nghệ Vật liệu Y sinh, Viện Công nghệ Tiên tiến (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) là 1 trong 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2025 |
Đây cũng là cách nhìn được TS. Đặng Thị Lệ Hằng đặt vào khoa học cơ bản. Lĩnh vực này không phải lúc nào cũng tạo ra sản phẩm ngay, nhưng là một phần của năng lực nội sinh quốc gia. Một đất nước muốn phát triển bền vững không thể chỉ tiếp nhận và làm chủ công nghệ có sẵn, mà phải từng bước tạo ra tri thức và công nghệ của riêng mình.
Trong lĩnh vực vật liệu sinh học, Việt Nam có nguồn nguyên liệu phong phú từ thực vật, nông nghiệp đến tài nguyên biển. Tuy nhiên, nếu chỉ khai thác theo cách truyền thống, giá trị tạo ra sẽ bị giới hạn. TS. Đặng Thị Lệ Hằng cho rằng điều quan trọng là làm chủ cách thiết kế, biến đổi vật liệu ở cấp độ phân tử để tạo ra những vật liệu có chức năng cao hơn, phục vụ y sinh, dược phẩm và các công nghệ chăm sóc sức khỏe.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cách đặt vấn đề trong các đề tài cũng cần thay đổi.
Nếu trước đây nhà khoa học thường bắt đầu từ chuyên môn, thiết bị và những thí nghiệm có thể thực hiện, thì nay hoạt động này cần được đặt trong mối liên hệ với những công nghệ Việt Nam đang cần làm chủ và khả năng đóng góp của các kết quả được tạo ra.
Điều này không có nghĩa khoa học cơ bản phải chạy theo những ứng dụng trước mắt. Ngược lại, lĩnh vực này vẫn cần được đầu tư với tầm nhìn dài hạn, đồng thời có sự gắn kết với những hướng công nghệ chiến lược mà Việt Nam định hướng làm chủ.
Từ đó, TS. Đặng Thị Lệ Hằng đề xuất thay đổi cách đánh giá thành công, chuyển dần từ tư duy "công bố một kết quả" sang "xây dựng một năng lực".
Một bài báo khoa học chất lượng vẫn là thước đo quan trọng để khẳng định năng lực chuyên môn và đóng góp của nhà khoa học trong cộng đồng quốc tế. Nhưng về lâu dài, giá trị còn nằm ở khả năng xây dựng nhóm, phát triển nền tảng, làm chủ kỹ thuật và tạo ra những kết quả mới trên cơ sở đã có.
Quá trình phát triển của một nhà khoa học trẻ cần được nhìn nhận theo lộ trình dài hạn. Giai đoạn đầu có thể tập trung xây dựng chuyên môn và tạo ra tri thức thông qua các công bố chất lượng. Tiếp đó là hình thành nhóm, nền tảng và năng lực kỹ thuật. Khi kết quả đủ trưởng thành, các công trình mới có thể chuyển sang phát triển prototype (nguyên mẫu), chuyển giao và thương mại hóa.
Không phải nhà khoa học nào cũng có thể đi đến cùng một đích trong cùng một khoảng thời gian. Nếu cơ chế chỉ tập trung vào một số chỉ tiêu đầu ra ngắn hạn, những người có năng lực và ý tưởng nhưng cần thêm thời gian để phát triển có thể bị bỏ lỡ. Vì vậy, bên cạnh công bố quốc tế, cần ghi nhận quá trình xây dựng nhóm, phát triển nền tảng, đào tạo nhân lực và hình thành các hướng đi có tính kế thừa.
Một điểm khác cần tháo gỡ là khoảng cách giữa phòng thí nghiệm với xã hội, doanh nghiệp và thị trường. Ở phía nhà khoa học, cách tiếp cận xuất phát từ chuyên môn, thiết bị và ý tưởng sẵn có vẫn khá phổ biến. Cách làm này có thể tạo ra những kết quả có giá trị học thuật, nhưng không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những bài toán mà đất nước và doanh nghiệp thực sự cần giải quyết.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn tập trung vào sản xuất, kinh doanh và tiếp nhận công nghệ có sẵn, trong khi nhu cầu phối hợp với các nhóm nghiên cứu để phát triển kỹ thuật mới chưa thực sự mạnh. Khoảng cách này khiến không ít kết quả khó chuyển hóa thành sản phẩm và công nghệ.
TS. Đặng Thị Lệ Hằng cho rằng cần hình thành hệ sinh thái kết nối sớm giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và doanh nghiệp. Cùng với đó là cơ chế đầu tư cho các khâu từ kết quả trong phòng thí nghiệm đến chứng minh ý tưởng, phát triển khuôn mẫu, đánh giá an toàn, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm.
Các nhóm nghiên cứu trẻ cũng cần được tiếp cận nguồn tài trợ dài hạn hơn, bởi một số hướng quan trọng không thể cho kết quả chỉ trong một hoặc hai năm.
TS. Đặng Thị Lệ Hằng đồng thời đặt kỳ vọng vào nghiên cứu liên ngành. Những công nghệ lớn trong tương lai khó phát triển chỉ từ một chuyên ngành. Sự giao thoa giữa vật liệu, sinh học, y học, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo ngày càng rõ nét, tạo dư địa cho những nhà khoa học trẻ có chuyên môn sâu và khả năng kết nối nhiều lĩnh vực.
Đối với thế hệ trẻ theo đuổi con đường khoa học, TS. Đặng Thị Lệ Hằng cho rằng đam mê cá nhân luôn có vị trí quan trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam, các nhà khoa học trẻ cũng cần đặt câu hỏi về giá trị của tri thức mà mình tạo ra.
"Theo tôi, mỗi nhà khoa học đều có quyền theo đuổi những đam mê của riêng mình, nhưng khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhà khoa học trẻ nên tự đặt ra câu hỏi "tri thức mình đang tạo ra có thể góp phần giải quyết vấn đề nào của đất nước và mình có thể làm chủ công nghệ nào cho Việt Nam?".
Cống hiến không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều "rất" lớn. Một công trình được thực hiện nghiêm túc, một công nghệ được làm chủ, một sinh viên được đào tạo tốt hay một hướng nghiên cứu mới được mở ra đều có thể là những đóng góp cụ thể. Điều quan trọng là dám theo đuổi những vấn đề khó, có tầm nhìn dài hạn và kiên trì với những giá trị mình tin tưởng.
"Khoa học cơ bản có thể chưa cho ra sản phẩm ngay ngày hôm nay, nhưng những tri thức được tạo ra hôm nay có thể trở thành nền móng cho công nghệ của nhiều năm sau. Đây cũng là một cách rất đẹp để thế hệ trí thức trẻ đóng góp cho đất nước, khi không chỉ giải quyết những vấn đề của hiện tại, mà còn chuẩn bị năng lực tri thức cho Việt Nam của tương lai".






















Bước tiến của nhà khoa học nữ trong thương mại hóa sáng chế
BK Holdings đề xuất “cầu thương mại hóa” cho nhà khoa học nữ
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt: Cần tạo môi trường để nhà khoa học nữ tham gia sâu hơn vào đổi mới sáng tạo
Năm nhà khoa học nữ tiên phong được vinh danh tại Giải thưởng L'Oréal-UNESCO 2026
Nhà khoa học nữ đứng sau những đột phá pin thế hệ mới trở thành lãnh đạo NTU
Gỡ nút thắt để nhà khoa học nữ đưa nghiên cứu ra thị trường
Cùng chuyên mục
TS. Đặng Thị Lệ Hằng: Từ phòng thí nghiệm đến năng lực làm chủ công nghệ
Dấu vết trong đất mở hướng nhận diện nguồn gốc nông sản
NCS Võ Hoàng Minh Thư tìm điều kiện hữu hạn trong vành chia
TS Anh Hoang-Lindsay đưa protein tơ thành thiết bị y tế
Nhà vật lý Phạm Lê Hà Thu đọc dữ liệu va chạm hạt từ ATLAS tại CERN
Dẫn xuất mới cùng lúc nhắm ba cơ chế của bệnh Alzheimer