![]() |
| PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương trình bày báo cáo tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tháng 5/2026. |
Một mắt ngủ trên cành hoa có thể trở thành vật liệu khởi đầu cho quá trình nhân giống lan. Với giống lan Vũ nữ lai Oncidium Golden Afternoon, PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương và nhóm nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm các điều kiện nuôi cấy nhằm xác định cách tạo chồi, phát triển rễ và hình thành cây giống trong phòng thí nghiệm. Kết quả được bà trình bày tại seminar khoa học ngày 16/9/2026, sau quá trình đánh giá nhiều yếu tố từ vật liệu ban đầu đến ánh sáng chiếu cho cây.
Điểm khởi đầu của nghiên cứu không phải là một cây lan hoàn chỉnh mà là mắt ngủ trên cành hoa. Qua thử nghiệm, nhóm xác định mắt ngủ lấy từ cành hoa sau 45 ngày phân hóa mầm hoa là loại vật liệu phù hợp nhất trong các điều kiện khảo sát. Ở mẫu này, tỷ lệ nhiễm được ghi nhận là 10%, tỷ lệ phát sinh hình thái đạt 86,67% và tỷ lệ bật mầm đạt 83,33%. Những con số phản ánh kết quả ở giai đoạn khởi tạo mẫu cấy, chưa phải tỷ lệ cây giống hoàn chỉnh sau toàn bộ quy trình.
Những điều kiện giúp chồi lan phát triển
Khi mẫu cấy đã bắt đầu hình thành chồi, bài toán chuyển sang lựa chọn môi trường dinh dưỡng thích hợp. Nhóm nghiên cứu thử nghiệm các điều kiện nuôi cấy và ghi nhận môi trường MS cho hệ số nhân chồi đạt 4,13 lần, đồng thời tạo được những cụm chồi sinh trưởng tốt. Đây là chỉ tiêu của giai đoạn nhân nhanh chồi trong phòng thí nghiệm, không đồng nghĩa với việc có thể ngay lập tức tạo ra số lượng cây thương phẩm tương ứng.
![]() |
| Ảnh minh họa một mẫu lan Golden Afternoon tại Vườn Thực vật Hoa Kỳ, không phải cây giống của nhóm nghiên cứu ở Việt Nam. |
Ở giai đoạn tiếp theo, môi trường và ánh sáng tiếp tục được điều chỉnh để cây hình thành rễ. Kết quả khảo sát môi trường nuôi cho thấy môi trường VW không bổ sung cao thịt đạt tỷ lệ ra rễ 100%, với rễ xuất hiện sau 12 ngày. Trong phép thử về điều kiện chiếu sáng, đèn LED trắng cũng cho tỷ lệ ra rễ 100%, nhưng thời điểm xuất hiện rễ là sau 17 ngày. Ở điều kiện ánh sáng này, cây đạt chiều cao 8,36 cm và chiều dài rễ 5,42 cm.
Hai mốc 12 ngày và 17 ngày thuộc các nội dung khảo sát khác nhau, vì vậy không thể gộp chúng thành một kết quả duy nhất. Việc xác định riêng ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng và ánh sáng cho thấy quá trình nhân giống phải giải quyết nhiều yêu cầu kế tiếp nhau. Một điều kiện phù hợp để tạo chồi chưa chắc đã là lựa chọn tốt nhất cho giai đoạn ra rễ và phát triển cây.
Từ các kết quả thu được, nhóm bước đầu đề xuất quy trình sử dụng mắt ngủ trên cành hoa làm vật liệu khởi đầu, nhân chồi trên môi trường MS, tạo rễ trên môi trường VW không bổ sung cao thịt và nuôi cây dưới ánh sáng LED trắng. Giá trị trực tiếp của nghiên cứu nằm ở việc xác định được những điều kiện nuôi cấy phù hợp với giống lan Vũ nữ lai đã khảo sát, thay vì áp dụng nguyên một công thức chung cho nhiều loại cây.
![]() |
| PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương trình bày nghiên cứu về cây lily Sa Pa tại seminar Khoa Công nghệ sinh học năm 2023. |
Từ cây lily Sa Pa đến phép thử với lan Vũ nữ
Nhân giống thực vật bằng kỹ thuật nuôi cấy mô không phải hướng nghiên cứu mới đối với PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương, Phó trưởng Bộ môn Sinh học, Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tháng 9/2023, bà từng trình bày một phần kết quả nghiên cứu về định danh và nhân nhanh cây lily Sa Pa bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Công việc khi ấy kết hợp việc xác định nguồn vật liệu thực vật với nghiên cứu điều kiện tái sinh, hướng tới bảo tồn và phát triển nguồn giống.
Cây lily Sa Pa và lan Vũ nữ thuộc những đối tượng nghiên cứu khác nhau, nhưng cùng đặt ra yêu cầu phải lựa chọn đúng mẫu cấy và điều kiện tái sinh. Với lily, nhóm nghiên cứu khảo sát khả năng tạo củ trong môi trường nuôi cấy. Với lan Vũ nữ lai, chuỗi thử nghiệm được trình bày năm 2026 tập trung vào mắt ngủ cành hoa, hệ số nhân chồi, môi trường ra rễ và nguồn sáng. Sự khác biệt này lý giải vì sao mỗi đối tượng thực vật cần những phép thử riêng trước khi hình thành quy trình nhân giống.
PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương cũng là thành viên nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ sinh học nano và công nghệ gen – protein tái tổ hợp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tháng 5/2026, bà tham gia trình bày tổng kết hoạt động của nhóm trong giai đoạn 2020–2025. Đến tháng 9, kết quả nghiên cứu trên giống lan Vũ nữ lai trở thành một nội dung cụ thể được đưa ra trao đổi tại seminar khoa học của nhóm.
Các số liệu công bố ở seminar mới phản ánh kết quả nghiên cứu trong điều kiện nuôi cấy in vitro. Chúng chưa đủ để kết luận quy trình đã được triển khai ở quy mô sản xuất, tỷ lệ sống của cây sau khi chuyển ra vườn ươm hay hiệu quả kinh tế đối với người trồng lan. Những công đoạn tiếp theo, nếu được nghiên cứu và kiểm chứng, sẽ quyết định liệu quy trình thử nghiệm có thể phát triển thành phương pháp cung cấp cây giống trong thực tế hay không.
Với công trình này, đóng góp được xác định rõ nhất là bộ kết quả thực nghiệm về vật liệu khởi đầu và điều kiện nuôi cấy của giống Oncidium Golden Afternoon. Đó là một bước nghiên cứu cụ thể trong quá trình hoàn thiện phương pháp nhân giống, chưa phải bằng chứng về một công nghệ đã được thương mại hóa.















Ứng dụng công nghệ sinh học trong việc nhân giống thảo dược quý hiếm invitro
TS. Vũ Thị Mơ cùng cộng sự tạo 50.000 cây giống rong Bắp sú
Nữ tiến sĩ “tối ưu bộ rễ Ba kích” ở vùng dược liệu tiền tỷ
Cùng chuyên mục
Đo nhịp rung dây văng cầu Mỹ Thuận bằng cảm biến sợi quang
Đọc nguy cơ phú dưỡng hồ Hòa Bình bằng dữ liệu và AI
Băng chitosan mang nano alpha-mangostin cho vết thương
Phục dựng lễ hội Cái Chiên sau gần 80 năm gián đoạn
Dùng AI chưa đồng nghĩa sinh viên đã làm chủ công nghệ số
PGS.TS. Bùi Thị Thu Hương tìm cách nhân nhanh giống lan Vũ nữ