![]() |
| ThS. Phạm Thị Lý, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương, nhà sáng lập nền tảng CheckVN |
Tại Đại hội đại biểu Hội Nữ trí thức Hà Nội lần thứ III, nhiệm kỳ 2026–2031, ThS. Phạm Thị Lý, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương, chia sẻ kinh nghiệm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kết nối nhà khoa học với nông dân và phát triển các mô hình tạo sinh kế từ tài nguyên bản địa.
Năm 2017, với sự hỗ trợ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, trực tiếp là Giáo sư Vũ Hoan và PGS.TS. Bùi Thị An, đơn vị của ThS. Phạm Thị Lý nghiên cứu, sáng chế chế phẩm vi sinh xử lý nguồn thải hữu cơ trong chăn nuôi.
Từ kết quả nghiên cứu này, Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương hoàn thiện bộ chế phẩm vi sinh, ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Nguồn thải hữu cơ từ chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp được xử lý để trở thành nguồn đầu vào cho sản xuất, góp phần tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao.
Mô hình sau đó được mở rộng, hình thành thêm các hợp tác xã và chuỗi sản xuất hữu cơ vi sinh. Năm 2019, với sự đồng hành của Hội Nữ trí thức Hà Nội, đơn vị có cơ hội kiến nghị UBND thành phố Hà Nội về việc nhân rộng mô hình.
Các đề xuất của Hội Nữ trí thức Hà Nội được thành phố xem xét, kết luận và định hướng triển khai thông qua các hội thảo, trong đó có những nội dung liên quan đến phương pháp hữu cơ sinh học, ứng dụng chế phẩm sinh học và nghiên cứu nhân rộng mô hình Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương.
Từ thực tế sản xuất, ThS. Lý cho rằng một hợp tác xã khó có thể phát triển nếu hoạt động đơn lẻ. Vì vậy, đơn vị đã xây dựng chuỗi liên kết giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng; sau đó mở rộng thêm vai trò của nhà thông tin.
Mô hình này giúp hợp tác xã kết nối với nông dân, cơ quan quản lý và các nhà khoa học để phát triển sản phẩm, từng bước tạo được vị thế trên thị trường.
Một hướng khác được Tiên Dương triển khai là gắn ứng dụng khoa học, công nghệ với bảo tồn tài nguyên bản địa và tạo sinh kế cho cộng đồng. Do nằm trong vùng lõi quy hoạch của Thủ đô, hợp tác xã đứng trước yêu cầu thích ứng khi diện tích sản xuất thay đổi. Đơn vị đã liên kết với nông dân tại Đông Anh, Sóc Sơn và một số địa phương khác để hình thành chuỗi sản xuất.
Qua đó, hợp tác xã tham gia bảo tồn và phát triển một số loài cây bản địa, cây dược liệu quý như sâm, trà hoa vàng và một số loài dược liệu khác. Riêng hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và thí điểm phát triển cây trà ba bàn tại xã Nam Sơn, nay là xã Trung Dã, huyện Sóc Sơn, đã có khoảng 1.700 hộ tham gia.
Kết quả này cho thấy khi khoa học và tri thức được đưa vào sản phẩm bản địa, các giá trị tài nguyên có thể trở thành nguồn sinh kế cho cộng đồng. Để làm được điều đó, cần sự tham gia đồng thời của nhà quản lý, nhà khoa học, hợp tác xã và người dân.
![]() |
Từ trải nghiệm thực tiễn, bà nhìn nhận vai trò của Hội Nữ trí thức Hà Nội không chỉ nằm ở việc tập hợp những người có chuyên môn mà còn ở khả năng kết nối tri thức với nhu cầu thực tế của xã hội.
“Một ý tưởng của một cá nhân có thể còn nhỏ nhưng nếu được kết nối với chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng thì ý tưởng đó có thể trở thành một mô hình có khả năng lan tỏa thực tiễn”, bà Lý nói.
Các đề xuất được trao đổi trong Hội từ năm 2019, sau đó được thành phố xem xét, kết luận và định hướng triển khai, là một ví dụ cho cách thức kết nối này. Đây cũng là cơ sở để Hội tiếp tục tập hợp trí tuệ, khuyến khích sáng tạo, kết nối nguồn lực, hiến kế, chuyển giao công nghệ và đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống trong nhiệm kỳ 2026–2031.
Từ thực tiễn hoạt động, ThS. Phạm Thị Lý đề xuất Hội Nữ trí thức Hà Nội tiếp tục phát huy vai trò tập hợp trí tuệ, phản biện và hiến kế cho thành phố, nhất là trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và phát triển đô thị.
Bà cũng đề nghị Hội coi chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu là một hướng hoạt động quan trọng; tăng cường kết nối trí thức với hợp tác xã, doanh nghiệp, địa phương và người dân để hình thành các mô hình có khả năng ứng dụng, tạo sinh kế và nhân rộng.
Bên cạnh đó, cần khuyến khích các mô hình kết hợp khoa học - công nghệ với bảo tồn tài nguyên bản địa, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế cộng đồng; đồng thời quan tâm hỗ trợ trí thức trong quá trình chuyển giao, ứng dụng, xây dựng thương hiệu và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Bà Lý cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phát hiện, động viên những trí thức đang trực tiếp làm việc tại cơ sở, những người không chỉ nghiên cứu mà còn đồng hành với người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để đưa khoa học vào sản xuất.

Chia sẻ về hành trình cá nhân, bà Lý cho biết khoảng 13 năm trước, bà gặp PGS.TS. Bùi Thị An trong quá trình triển khai sáng chế về quy trình xác thực chống hàng giả và bước đầu ứng dụng vào chống hàng giả, truy xuất nguồn gốc.
Từ một doanh nghiệp chuyển sang nghiên cứu, bà từng không nghĩ mình có thể làm khoa học. Chính sự động viên và định hướng của PGS.TS. Bùi Thị An đã giúp bà tiếp tục theo đuổi con đường này, từ nghiên cứu sáng chế đến ứng dụng thực tế.
Đến nay, quy trình xác thực chống hàng giả mà bà tham gia nghiên cứu đã trở thành nền tảng công nghệ và là công nghệ lõi được sử dụng trong hệ thống truy xuất nguồn gốc lô sản phẩm thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được công bố trong tháng 8/2026.
PGS.TS. Bùi Thị An cùng các nhà khoa học, trong đó có Giáo sư Vũ Hoan, đã tham gia phản biện và đồng hành với đơn vị từ những bước đầu xây dựng chuỗi liên kết. Từ quá trình nghiên cứu và ứng dụng, đến nay bà đã có 7 bằng phát minh, sáng chế và giải pháp hữu ích, trong đó có bằng bảo hộ giống cây trồng.
Với bà Lý, quá trình này cho thấy sự định hướng, tư vấn và kết nối của đội ngũ trí thức có thể giúp một sáng kiến từ thực tiễn phát triển thành kết quả nghiên cứu, sản phẩm và mô hình ứng dụng trong đời sống.



















Từ nấm bản địa đến công nghệ lên men, chuyển hóa sinh học
Cảm biến graphene phát hiện khí H₂S ở nồng độ thấp hơn 1.000 lần thiết bị thương mại
Công nghệ làm giàu isoflavone dạng aglycone từ mầm đậu nành
Từ công nghệ nano đến giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi
Cùng chuyên mục
Từ sáng chế vi sinh đến mô hình liên kết đưa khoa học vào sản xuất
PGS.TS Trần Thị Thu Trà đưa vỏ cà phê tới bước chuyển giao công nghệ
Tìm đúng lúc cần phòng trừ để ruộng hành bớt lần phun thuốc
Giảm sâu bệnh cho vải Đắk Lắk bằng quy trình theo hướng hữu cơ
PGS.TS Vũ Thị Thu thử cảm biến trên tế bào ung thư phổi
Que thử theo dõi ung thư của nhóm PGS.TS Trương Thị Ngọc Liên