![]() |
| PGS.TS Lê Ngọc Anh, Phó Trưởng Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. |
Trên một ruộng hành có sâu, câu hỏi không chỉ là dùng loại thuốc nào. Khó hơn là biết lúc nào mật độ sâu đã đủ cao để phải can thiệp. Phun quá sớm hoặc theo lịch cố định có thể làm tăng số lần sử dụng thuốc; chờ quá lâu thì thiệt hại năng suất lại tăng.
Đó là một trong những bài toán mà PGS.TS Lê Ngọc Anh, Phó Trưởng Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng cộng sự theo đuổi trong đề tài cấp Bộ giai đoạn 2022–2025 về quản lý tổng hợp sâu keo da láng, còn gọi là sâu xanh da láng, hại hành tại một số tỉnh phía Bắc. Hồ sơ chính thức của Học viện ghi PGS.TS Lê Ngọc Anh là người chủ trì đề tài.
Công trình không đi theo hướng tìm một loại thuốc mạnh hơn. Nhóm nghiên cứu kết hợp biện pháp canh tác, vật lý – cơ giới, sinh học và hóa học, đồng thời dùng bẫy pheromone, mật độ ổ trứng và sâu non làm căn cứ xác định thời điểm phòng trừ.
Mốc 10 con mỗi bẫy trong một đêm
Phần dữ liệu cụ thể nhất hiện có nằm trong bài báo đăng ngày 24/2/2026 trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp. PGS.TS Lê Ngọc Anh là đồng tác giả, đứng thứ ba trong nhóm bốn tác giả; PGS.TS Hồ Thị Thu Giang là tác giả liên hệ. Vì vậy, kết quả này cần được nhìn là sản phẩm của cả nhóm nghiên cứu, không phải nghiên cứu cá nhân của riêng PGS.TS Lê Ngọc Anh.
Thí nghiệm ngoài đồng được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 8/2024 tại vùng chuyên hành hoa ở phường Hiến Thành, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; bài báo năm 2026 chú thích địa điểm này nay thuộc phường Nguyễn Đại Năng, thành phố Hải Phòng. Trước thí nghiệm, nhóm bố trí 25 bẫy pheromone trên mỗi hecta và theo dõi liên tục trong bốn tuần.
Các ô ruộng sau đó được xử lý thuốc khi số sâu trưởng thành vào bẫy đạt các mốc khác nhau: trên 0, từ 5, 10, 15 hoặc 20 con/bẫy/đêm. Một công thức khác phun định kỳ hai lần mỗi tuần theo tập quán tại vùng nghiên cứu; công thức đối chứng không phun thuốc.
Kết quả cho thấy mốc từ 10 con trưởng thành/bẫy/đêm tạo ra sự đánh đổi đáng quan tâm. Trong vụ hành kéo dài khoảng 42–45 ngày, công thức này phải phun 5 lần. Công thức phun định kỳ hai lần mỗi tuần phun 10 lần. Chi phí thuốc trừ sâu keo da láng ở công thức theo ngưỡng giảm 46,74% so với phun định kỳ.
Nhưng giảm số lần phun không có nghĩa mọi chỉ số đều tốt hơn. Năng suất ở công thức ngưỡng 10 con đạt 40,2 tấn/ha, thấp hơn 5,41% so với mức 42,5 tấn/ha của công thức phun định kỳ. Bù lại, tổng chi phí thấp hơn khiến lợi nhuận được tính ở mức 282,25 triệu đồng/ha, nhỉnh hơn mức khoảng 278,44 triệu đồng/ha của phương án phun hai lần mỗi tuần.
Khoảng chênh lợi nhuận chỉ khoảng 3,8 triệu đồng/ha trong điều kiện thí nghiệm. Con số này đáng lưu ý bởi nó cho thấy giá trị của phương pháp không nên được kể đơn giản thành câu chuyện “phun ít hơn thì lãi nhiều hơn”. Thứ nghiên cứu tìm kiếm là một điểm cân bằng giữa chi phí phòng trừ, thiệt hại năng suất và lợi nhuận.
Ba ngưỡng để quyết định thời điểm phòng trừ
Bài báo năm 2026 xác định ba nhóm chỉ báo. Với bẫy pheromone, ngưỡng được đề xuất là từ 10 sâu trưởng thành/bẫy/đêm. Với ổ trứng, ngưỡng tương ứng 0,11 ổ/m² ở 5 ngày sau trồng và 0,14 ổ/m² ở 20 ngày. Với sâu non, mức tương ứng là 6,1 con/m² ở 7 ngày và 9,4 con/m² ở 21 ngày. Hai ngưỡng sâu non được xác định tương ứng mức thiệt hại năng suất 5%.
Đây là kết quả trong điều kiện nghiên cứu cụ thể, không phải công thức để người trồng hành ở mọi vùng áp dụng máy móc. Bài báo cũng lưu ý bẫy pheromone chỉ được sử dụng sau khi được đăng ký vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam để phòng chống sâu keo da láng hại hành.
Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp, tập 10(1), 2026; DOI 10.46826/huaf-jasat.v10n1y2026.1315.
![]() |
| PGS.TS Lê Ngọc Anh (đứng giữa) cùng các giảng viên bộ môn trong hoạt động chuyên môn. Ảnh: Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. |
Bẫy không chỉ để bắt sâu
Pheromone giới tính là tín hiệu hóa học liên quan đến hoạt động tìm bạn tình của côn trùng. Bẫy sử dụng mồi pheromone có thể giúp theo dõi sự xuất hiện và biến động của sâu trưởng thành trước khi quyết định biện pháp xử lý.
Trong thí nghiệm tại Kinh Môn, mồi pheromone thu bắt sâu đực do Học viện Nông nghiệp Việt Nam cung cấp. Dữ liệu từ bẫy được tính theo số trưởng thành/bẫy/đêm rồi dùng làm căn cứ kích hoạt biện pháp phòng trừ.
Theo Khoa Nông học, nhóm nghiên cứu còn sử dụng sắc ký khí ghép khối phổ để xác định thành phần pheromone giới tính của sâu keo da láng hại hành và phối trộn mồi pheromone. Đơn vị nghiên cứu mô tả đây là lần đầu thành phần này được xác định tại Việt Nam. Vì tuyên bố “lần đầu” hiện được công bố từ chính đơn vị thực hiện công trình, bài viết chỉ ghi nhận theo nguồn, không mở rộng thành khẳng định độc lập.
Cách sử dụng dữ liệu bẫy cũng cho thấy một thay đổi đáng chú ý trong quản lý đồng ruộng. Thay vì mặc định tới một ngày nhất định sẽ phun thuốc, người sản xuất theo dõi tín hiệu của quần thể sâu rồi mới quyết định.
Đó cũng là logic đang xuất hiện ở nhiều hướng công nghệ nông nghiệp: đưa dữ liệu vào quyết định canh tác, dù loại dữ liệu và mục tiêu sử dụng ở mỗi nghiên cứu rất khác nhau.
Từ kết quả nghiên cứu đến tiến bộ kỹ thuật
Ngày 13/10/2025, “Quy trình quản lý tổng hợp sâu keo da láng (sâu xanh da láng) Spodoptera exigua (Hübner) hại hành” được công nhận theo Quyết định số 3491/QĐ-TTTV. Danh mục của Học viện Nông nghiệp Việt Nam ghi bốn tác giả gồm Lê Ngọc Anh, Hồ Thị Thu Giang, Nguyễn Đức Khánh và Trần Thị Thu Phương.
Ở đây cần phân biệt rõ: được công nhận là tiến bộ kỹ thuật không đồng nghĩa với được cấp bằng sáng chế, cũng không có nghĩa mồi pheromone đã trở thành một sản phẩm thương mại có thể tự do sử dụng trên mọi vùng trồng hành.
Điểm thứ hai đặc biệt quan trọng. Chính bài báo khoa học năm 2026 ghi rõ bẫy pheromone chỉ được sử dụng sau khi đăng ký vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam cho mục đích phòng chống sâu keo da láng hại hành.
Như vậy, giữa “có cơ sở khoa học”, “quy trình được công nhận” và “nông dân có thể mua, sử dụng rộng rãi một sản phẩm” vẫn còn những bước pháp lý và triển khai khác nhau.
![]() |
| PGS.TS Lê Ngọc Anh, thành viên chủ chốt của Nhóm nghiên cứu mạnh Bảo vệ thực vật, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Khoa Nông học. |
Hai mô hình chưa đại diện cho mọi vùng hành
Trong cập nhật ngày 1/9/2026, Khoa Nông học cho biết quy trình đã được triển khai tại Phúc Thọ, Hà Nội và Kinh Môn. Theo số liệu do đơn vị nghiên cứu công bố, so với tập quán sản xuất, số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giảm 1–2 lần/vụ; hiệu quả phòng trừ được ghi nhận 77% tại Kinh Môn và 76,82% tại Phúc Thọ. Lợi nhuận được báo cáo tăng tương ứng 16,19% và 17,02%.
Những con số này khác với thí nghiệm ngưỡng pheromone năm 2024, nơi công thức 10 con/bẫy/đêm giảm từ 10 xuống 5 lần phun. Không nên ghép hai bộ số liệu thành một kết quả duy nhất: một bên là thí nghiệm so sánh các ngưỡng trong điều kiện thiết kế nghiên cứu; bên kia là kết quả mô hình do đơn vị nghiên cứu tổng hợp tại hai địa điểm.
Nguồn công khai về hai mô hình Phúc Thọ và Kinh Môn hiện cũng chưa kèm bộ dữ liệu chi tiết tương đương các bảng trong bài báo khoa học. Vì thế, các mức tăng lợi nhuận 16–17% nên được dẫn đúng là số liệu do Khoa Nông học công bố, chưa nên suy rộng thành mức hiệu quả người trồng hành ở địa phương khác có thể mặc nhiên đạt được.
Đây cũng là giới hạn cần nhìn thẳng nếu muốn đánh giá giá trị ứng dụng của nghiên cứu. Thời tiết, giống hành, mật độ sâu, chi phí vật tư và tập quán canh tác có thể thay đổi giữa các vùng. Một ngưỡng được xác lập ở Kinh Môn cần thêm dữ liệu nếu muốn áp dụng rộng hơn trong những điều kiện sinh thái khác.
Điều đáng giữ lại từ công trình của PGS.TS Lê Ngọc Anh và cộng sự vì vậy không nằm ở một con số giảm phun riêng lẻ. Đó là cách chuyển câu hỏi của người trồng hành từ “đến lịch đã phải phun chưa?” sang “dữ liệu ngoài ruộng đã cho thấy cần can thiệp chưa?”.
Một thay đổi tưởng nhỏ trong cách ra quyết định, nhưng muốn đi từ nghiên cứu đến sử dụng rộng rãi vẫn cần tiếp tục kiểm chứng ở nhiều vùng, hoàn thiện điều kiện pháp lý cho bẫy pheromone và bảo đảm người sản xuất có khả năng đọc, theo dõi các ngưỡng trên đồng ruộng.





















TS Phạm Thị Thu Hà tìm hoạt chất thực vật có thể ức chế cỏ dại
Enfarm đưa dữ liệu đất vào quyết định bón phân của nhà nông
Dấu vết trong đất mở hướng nhận diện nguồn gốc nông sản
Nữ tiến sĩ trở về Việt Nam, theo đuổi nghiên cứu dữ liệu và AI cho nông nghiệp
Cùng chuyên mục
Tìm đúng lúc cần phòng trừ để ruộng hành bớt lần phun thuốc
Giảm sâu bệnh cho vải Đắk Lắk bằng quy trình theo hướng hữu cơ
PGS.TS Vũ Thị Thu thử cảm biến trên tế bào ung thư phổi
Que thử theo dõi ung thư của nhóm PGS.TS Trương Thị Ngọc Liên
Biến bã sắn và bã đậu nành thành nguyên liệu giàu dinh dưỡng
Nấm từ gỗ mục Xuân Sơn cho enzyme khử màu thuốc nhuộm