![]() |
| ThS. Bùi Thị Hải Yến trình bày báo cáo tại Hội nghị khoa học của Bộ môn Chẩn đoán giám định dịch hại và Thiên địch, Viện Bảo vệ thực vật. Ảnh: Viện Bảo vệ thực vật. |
Ở vùng trồng vải Đắk Lắk, nhóm nghiên cứu do ThS. Bùi Thị Hải Yến, Viện Bảo vệ thực vật, chủ trì ghi nhận 11 loài sâu hại và 8 loài bệnh hại chủ yếu. Nhưng đề tài không dừng ở việc lập danh sách dịch hại. Nhóm đi sâu vào sâu đục cuống quả và bệnh thán thư, rồi từ dữ liệu tại địa phương xây dựng các biện pháp quản lý theo hướng hữu cơ và đưa xuống hai mô hình sản xuất.
Đề tài có tên “Ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ để quản lý sâu, bệnh hại cây vải theo hướng hữu cơ, nâng cao chất lượng hàng hóa tại tỉnh Đắk Lắk”, do Viện Bảo vệ thực vật chủ trì, ThS. Bùi Thị Hải Yến làm chủ nhiệm. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2026.
Biết rõ đối tượng gây hại trước khi chọn cách phòng trừ
Để xây dựng quy trình, nhóm của ThS. Bùi Thị Hải Yến trước hết khảo sát tình hình sản xuất và các hạn chế trong kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh tại vùng nghiên cứu. Trong số các đối tượng được ghi nhận, sâu đục cuống quả và tác nhân gây bệnh thán thư được nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái để lựa chọn giải pháp quản lý phù hợp.
Các kết quả khoa học cũng đã xuất hiện trong Tạp chí Bảo vệ thực vật số 1/2026. Danh mục của tạp chí ghi ThS. Bùi Thị Hải Yến đứng tên đầu ở nghiên cứu về đặc điểm sinh học của nấm Colletotrichum fructicola gây bệnh thán thư trên cây vải tại Đắk Lắk. Một công trình khác đi vào các biện pháp phòng chống sâu đục cuống quả Conopomorpha sinensis và bệnh thán thư do C. fructicola.
Điều này cho thấy chuỗi nghiên cứu được triển khai từ nhận diện tác nhân, tìm hiểu đặc điểm của đối tượng gây hại đến thử các biện pháp phòng chống, thay vì chỉ đưa một quy trình kỹ thuật xuống vườn mà thiếu dữ liệu về dịch hại tại địa phương.
![]() |
| Vùng trồng vải tại Đắk Lắk được triển khai quy trình sản xuất theo hướng hữu cơ, trong đó quản lý sâu bệnh là một nội dung của đề tài do ThS. Bùi Thị Hải Yến chủ trì. Ảnh: Bộ KH&CN. |
Hai mô hình đưa quy trình ra vườn vải
Sau bước khảo sát và xây dựng giải pháp, đề tài triển khai hai mô hình quản lý tổng hợp sâu bệnh tại xã Ea Knốp và xã Phú Xuân.
Theo kết quả được Bộ KH&CN công bố ngày 9/9, hiệu quả phòng trừ sâu bệnh tại các mô hình đạt trên 79%. Lợi nhuận của mô hình tại Ea Knốp tăng 25,63%, còn tại Phú Xuân tăng 19,15% so với mô hình đối chứng. Bộ KH&CN cũng cho biết sản phẩm vải thu hoạch từ các mô hình không phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Các con số này cần được giữ đúng phạm vi: đó là kết quả tại hai mô hình của đề tài ở Đắk Lắk, không phải số liệu đại diện cho toàn bộ vùng trồng vải. Cách gọi của cơ quan quản lý cũng là quy trình sản xuất “theo hướng hữu cơ”.
Ở một mắt xích khác của bài toán kiểm soát hóa chất trong nông nghiệp, Phụ nữ Mới từng giới thiệu nghiên cứu dùng tín hiệu ánh sáng nhận biết hai thuốc bảo vệ thực vật. Công trình đó mới được thử trong điều kiện phòng thí nghiệm, trong khi đề tài của ThS. Bùi Thị Hải Yến đi theo hướng quản lý dịch hại trực tiếp tại vùng sản xuất.
![]() |
| Kết quả đề tài được đưa vào mô hình sản xuất, hỗ trợ người dân hoàn thiện khâu chăm sóc và thu hoạch vải tại Đắk Lắk. Ảnh: Bộ KH&CN. |
Việc có số liệu kinh tế bên cạnh chỉ tiêu kỹ thuật cũng đáng quan tâm. Với một quy trình dành cho sản xuất nông nghiệp, khả năng phòng trừ sâu bệnh chưa phải câu chuyện duy nhất; chi phí và phần lợi nhuận so với cách làm đối chứng mới cho thấy người trồng có thêm cơ sở để cân nhắc việc áp dụng.
Nghiệm thu rồi vẫn còn phần việc phải hoàn thiện
Chiều 16/6/2026, Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh xem xét kết quả đề tài. Hội đồng đánh giá nhóm nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu, nội dung và các sản phẩm theo đề cương, trong đó có việc xác định các đối tượng sâu bệnh chính, xây dựng giải pháp quản lý bệnh thán thư, sâu hại quả và triển khai mô hình thực tế.
Tuy nhiên, phần việc sau nghiệm thu chưa kết thúc. Hội đồng yêu cầu nhóm tiếp tục hoàn thiện báo cáo tổng kết, cập nhật tài liệu, bổ sung thông tin về điều kiện sinh thái, đất đai, nguồn nước và làm rõ thêm một số nội dung kỹ thuật của mô hình quản lý tổng hợp sâu bệnh. Các kiến nghị về liên kết sản xuất, chuỗi giá trị, tiêu thụ và định hướng xuất khẩu cũng được đề nghị bổ sung.
![]() |
| Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài quản lý sâu, bệnh hại cây vải theo hướng hữu cơ tại Đắk Lắk ngày 16/6/2026. Ảnh: Bộ KH&CN. |
Chi tiết này giúp xác định đúng giai đoạn của nghiên cứu. Đề tài đã có quy trình và hai mô hình được triển khai trong sản xuất, chứ không còn dừng ở thử nghiệm trong phòng. Nhưng chính Hội đồng nghiệm thu vẫn yêu cầu làm rõ thêm những điều kiện liên quan đến môi trường canh tác và khâu nối tiếp sau sản xuất.
Với nghiên cứu do ThS. Bùi Thị Hải Yến chủ trì, phần có thể nhìn thấy rõ ở thời điểm hiện nay là dữ liệu dịch hại tại vùng nghiên cứu, hai mô hình thực tế cùng các chỉ số kỹ thuật và kinh tế đã được công bố. Những yêu cầu sau nghiệm thu cho thấy con đường từ một quy trình đã thử nghiệm đến việc áp dụng rộng hơn vẫn cần thêm các bước hoàn thiện.





















Dùng tín hiệu ánh sáng nhận biết hai thuốc bảo vệ thực vật
Dấu vết trong đất mở hướng nhận diện nguồn gốc nông sản
ThS. Lê Thị Mỹ Hảo: "Muốn nông nghiệp bền vững, phải coi đất là một cơ thể sống"
Cùng chuyên mục
Tìm đúng lúc cần phòng trừ để ruộng hành bớt lần phun thuốc
Giảm sâu bệnh cho vải Đắk Lắk bằng quy trình theo hướng hữu cơ
PGS.TS Vũ Thị Thu thử cảm biến trên tế bào ung thư phổi
Que thử theo dõi ung thư của nhóm PGS.TS Trương Thị Ngọc Liên
Biến bã sắn và bã đậu nành thành nguyên liệu giàu dinh dưỡng
Nấm từ gỗ mục Xuân Sơn cho enzyme khử màu thuốc nhuộm