![]() |
| Ảnh minh họa: ITN |
Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhiều chính sách mới đã được ban hành, tạo nền tảng quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, theo Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hệ thống khoa học và công nghệ vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống, làm hạn chế khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Ban Chỉ đạo đã chỉ rõ 12 điểm nghẽn lớn cùng các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo quốc gia, từ hoạch định chiến lược, tổ chức nghiên cứu đến chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Một trong những hạn chế đầu tiên được chỉ ra là việc xây dựng định hướng chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế. Hiện nay, phần lớn nhiệm vụ nghiên cứu vẫn được hình thành theo cơ chế đặt hàng từ cơ quan quản lý nhà nước, trong khi vai trò của doanh nghiệp chủ thể trực tiếp ứng dụng kết quả nghiên cứu còn khá mờ nhạt. Điều này khiến không ít đề tài chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, hệ thống danh mục công nghệ hiện còn phân tán với nhiều nhóm như công nghệ chiến lược, công nghệ cao ưu tiên phát triển và sản phẩm công nghệ số trọng điểm, nhưng chưa được tích hợp thành một hệ thống thống nhất. Sự thiếu đồng bộ này có nguy cơ dẫn đến đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực.
Ban Chỉ đạo cũng cho rằng vai trò của Tổng công trình sư quốc gia chưa được luật hóa, trong khi mối liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên cơ chế phối hợp, chưa có ràng buộc pháp lý đủ mạnh.
Để khắc phục, Ban Chỉ đạo đề xuất sớm hoàn thiện hành lang pháp lý đối với mô hình Tổng công trình sư quốc gia; thống nhất hệ thống danh mục công nghệ chiến lược và rà soát, cập nhật định kỳ hai năm một lần. Đồng thời, cần thể chế hóa mô hình liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp trở thành chủ thể tham gia đặt hàng các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia.
Không chỉ ở cấp độ chiến lược, quá trình xác lập nhiệm vụ nghiên cứu cũng được xác định là một điểm nghẽn lớn. Theo đánh giá, thời gian từ khi đề xuất đến khi phê duyệt một nhiệm vụ khoa học hiện thường kéo dài từ 6 đến 12 tháng. Trong khi đó, tổ chức hoặc nhà khoa học đề xuất ý tưởng ban đầu lại chưa được ưu tiên thực hiện chính nhiệm vụ của mình sau khi đề tài được đưa ra tuyển chọn. Điều này làm giảm động lực sáng tạo, khiến nhiều ý tưởng có giá trị không được tiếp tục phát triển.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp chưa tham gia ngay từ giai đoạn xác định bài toán nghiên cứu, trong khi cơ chế bảo vệ ý tưởng ban đầu vẫn chưa rõ ràng.
Để rút ngắn quy trình, Ban Chỉ đạo kiến nghị áp dụng quy trình số hóa một cửa, giảm thời gian xác lập nhiệm vụ xuống còn từ một đến ba tháng; xây dựng cơ chế bảo hộ đối với người đề xuất ý tưởng; mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong hội đồng xác định nhiệm vụ; đồng thời thúc đẩy cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp đối với các đề tài nghiên cứu ứng dụng.
Ở giai đoạn tổ chức thực hiện, nhiều rào cản tiếp tục được nhận diện. Hội đồng xét duyệt nhiệm vụ còn nặng tính hành chính, thiếu sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành và chuyên gia quốc tế. Cơ chế hợp tác công - tư chưa phát huy hiệu quả, trong khi tiến độ giải ngân kinh phí còn chậm và Việt Nam vẫn thiếu các quỹ đầu tư rủi ro dành cho công nghệ chiến lược.
Việc áp dụng cơ chế khoán chi cũng chưa thống nhất. Nhiều tổ chức nghiên cứu vẫn phải thanh quyết toán theo chứng từ chi tiết, làm gia tăng thủ tục hành chính. Mức chi trả cho chuyên gia chưa theo kịp mặt bằng thị trường, trong khi hệ thống theo dõi tiến độ nghiên cứu còn thiếu tính minh bạch.
Ban Chỉ đạo đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế khoán chi toàn diện, điều chỉnh định mức chi theo giá thị trường; xây dựng hệ thống quản lý tiến độ trực tuyến và thí điểm cơ chế giám sát độc lập bởi bên thứ ba nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nghiên cứu.
Khâu nghiệm thu kết quả nghiên cứu cũng được đánh giá còn nhiều bất cập. Mặc dù chủ trương chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học đã được xác định, nhưng vẫn chưa có quy định cụ thể để bảo vệ nhà khoa học trong trường hợp kết quả không đạt như kỳ vọng do nguyên nhân khách quan. Công tác đánh giá vẫn thiên về quy trình thực hiện hơn là hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa.
Theo đó, Ban Chỉ đạo kiến nghị bổ sung các tiêu chí đánh giá dựa trên giá trị ứng dụng và khả năng thương mại hóa của kết quả nghiên cứu; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia để theo dõi hiệu quả sau nghiệm thu, đồng thời cụ thể hóa cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với các rủi ro khoa học khách quan.
Ở giai đoạn sau nghiên cứu, nhiều điểm nghẽn tiếp tục xuất hiện trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường.
Theo Ban Chỉ đạo, năng lực thẩm định sáng chế trong các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ sinh học còn hạn chế. Việt Nam cũng đang thiếu đội ngũ chuyên gia định giá tài sản trí tuệ và chưa có phương pháp định giá thống nhất, khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó được thương mại hóa hoặc sử dụng để góp vốn.
Trong khi đó, các sàn giao dịch công nghệ chủ yếu mới dừng ở hoạt động giới thiệu, trưng bày công nghệ, chưa thực sự trở thành một thị trường giao dịch đúng nghĩa. Việc thiếu đội ngũ môi giới công nghệ chuyên nghiệp và hệ thống dữ liệu minh bạch cũng khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn tiếp nhận kết quả nghiên cứu từ các viện, trường.
Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cũng còn nhiều khoảng trống. Đến nay, vẫn chưa có quy định thống nhất về doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off); Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia chưa được hình thành; đồng thời còn thiếu cơ chế ưu đãi dành cho nhà đầu tư thiên thần và cơ chế đầu tư đối ứng. Bên cạnh đó, các trung tâm đổi mới sáng tạo chưa phát huy đầy đủ vai trò kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, cũng như thiếu cơ chế chia sẻ phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu và chuyên gia quốc tế.
Một hạn chế khác được chỉ ra là Việt Nam chưa có phương pháp thống nhất để xác định tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong nước đối với các sản phẩm công nghệ mới. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu và chậm được cập nhật, trong khi chính sách mua sắm công chưa thực sự tạo thị trường cho các sản phẩm khoa học và công nghệ. Cơ chế "Nhà nước là khách hàng đầu tiên" đối với các sản phẩm công nghệ mới vẫn chưa được hình thành, làm giảm động lực đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Theo Ban Chỉ đạo Trung ương, việc tháo gỡ đồng bộ 12 điểm nghẽn sẽ góp phần hình thành chuỗi đổi mới sáng tạo thông suốt, từ xác định nhu cầu nghiên cứu, tài trợ, tổ chức thực hiện, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến chuyển giao công nghệ, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Đây là điều kiện quan trọng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát huy vai trò là động lực tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.






















Thủ tướng Lê Minh Hưng: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước
Hàng loạt chính sách mới mở đường cho nhân tài khoa học công nghệ
Luật Thủ đô sửa đổi mở “đường băng” cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Doanh nghiệp được khuyến khích lập quỹ khoa học công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Tạo hành lang mới cho khoa học, công nghệ và chuyển giao tri thức trong cơ sở giáo dục đại học
Khoa học, công nghệ trở thành động lực chủ yếu trong chiến lược phát triển đến năm 2030
Cùng chuyên mục
12 điểm nghẽn cần tháo gỡ để khoa học, công nghệ trở thành động lực tăng trưởng mới
5 lý do khiến Sun World Ha Nam thành "tọa độ trốn nóng" hot nhất miền Bắc dịp hè 2026
Vinfast ra mắt VF 2 - Xe đô thị cỡ nhỏ giá 188 triệu đồng
Chi hội Nữ trí thức Khánh Hòa kiện toàn tổ chức, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số
Gỡ “nút thắt” hai bệnh lý dai dẳng cho người phụ nữ bị sa đa tạng chậu phức tạp
Vinhomes Wonder City hút giới tinh hoa nhờ cộng đồng sống văn minh