Các mô hình không chỉ hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng nông sản mà còn mở ra cơ hội cải thiện thu nhập, việc làm và sinh kế cho phụ nữ nông thôn.
![]() |
Đưa khoa học vào những cánh đồng
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ và hạn chế trong tiếp cận khoa học, công nghệ khiến không ít nông hộ gặp khó khăn. Với phụ nữ nông thôn, đặc biệt là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, việc tìm kiếm sinh kế ổn định càng trở nên cấp thiết.
Trong bối cảnh đó, GS.TS. Nguyễn Thị Lang, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long (HATRI), cùng Chi hội Nữ trí thức Đồng bằng sông Cửu Long đã triển khai các mô hình nông nghiệp gắn với nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật và điều kiện sản xuất thực tế tại địa phương.
Điểm đáng chú ý của các mô hình là không dừng lại ở việc thử nghiệm giống cây trồng hay áp dụng quy trình canh tác mới. Kết quả nghiên cứu được đưa vào sản xuất, gắn với tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và từng bước hình thành các phương thức tổ chức sản xuất phù hợp. Qua đó, người nông dân có thêm cơ hội tiếp cận tri thức khoa học, nâng cao chất lượng nông sản và cải thiện hiệu quả kinh tế.
Bốn mô hình tiêu biểu gồm canh tác đậu phộng theo hướng bền vững tại Trà Vinh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long), trồng rau sạch tại Cần Thơ, xây dựng mạng lưới nhân giống khoai lang tím tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và canh tác xoài phục vụ xuất khẩu tại Châu Phú, tỉnh An Giang.
Canh tác đậu phộng bền vững, nâng cao giá trị trên đồng đất
Tại vùng ven biển Trà Vinh, mô hình canh tác đậu phộng được triển khai trên quy mô 30 ha, hướng đến sử dụng chế phẩm sinh học, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm những tác động bất lợi đối với môi trường.
Trọng tâm nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của phân bón hữu cơ dựa trên vi sinh vật bản địa đối với sinh trưởng, năng suất đậu phộng, đồng thời phân tích các đặc tính lý, hóa của đất trước và sau khi áp dụng phân bón. Cách tiếp cận này giúp làm rõ vai trò của nguồn vi sinh vật bản địa trong cải thiện điều kiện canh tác, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất phù hợp với vùng đất ven biển.
![]() |
| GS.TS Nguyễn Thị Lang tại khu vực trồng cây đậu phộng |
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác đậu phộng theo hướng bền vững, sử dụng chế phẩm sinh học và hướng tới sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP. Đây là hướng đi có ý nghĩa trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp phải đồng thời giải quyết bài toán năng suất, chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và bảo vệ tài nguyên đất.
Một điểm đáng quan tâm là hiệu quả kinh tế của mô hình được xem xét không chỉ từ năng suất thu hoạch mà còn từ toàn bộ chuỗi sản xuất và thương mại. Theo số liệu phân tích trong tài liệu nghiên cứu, chi phí hàng hóa trung gian chiếm khoảng 7,9% doanh thu, trong khi giá trị gia tăng chiếm 92,1%. Kết quả này cho thấy tiềm năng tạo giá trị của cây đậu phộng khi tận dụng tốt nguồn lực tại chỗ và hạn chế sự phụ thuộc vào các đầu vào bên ngoài.
Đối với phụ nữ nông thôn, mô hình mở ra cơ hội tham gia vào các khâu trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế nông sản. Việc ứng dụng kỹ thuật mới, sử dụng chế phẩm sinh học và tổ chức sản xuất theo quy trình cũng góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng canh tác, tạo nền tảng để người dân từng bước chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất có căn cứ khoa học.
![]() |
| Tập huấn cho nữ nông dân nghèo tai Trà Vinh ( Vĩnh Long) |
Trồng rau sạch: Từ chọn tạo giống đến sản xuất tại địa phương
Tại Cần Thơ, mô hình trồng rau sạch tập trung vào việc ứng dụng công nghệ sinh học và các kỹ thuật chọn tạo giống nhằm nâng cao chất lượng nguồn giống, đáp ứng nhu cầu sản xuất rau an toàn.
Ba loại cây trồng được lựa chọn là dưa leo, khổ qua và đậu que. Nhóm nghiên cứu kế thừa các kết quả nghiên cứu của Viện, ứng dụng công nghệ di truyền, trong đó có chỉ thị DNA, để phục vụ chọn lọc vật liệu, lai tạo giống có khả năng kháng hoặc chịu được áp lực sâu bệnh cao, đồng thời kiểm tra độ thuần hạt giống.
Mô hình hướng tới hoàn thiện quy trình chọn tạo ba giống rau, xây dựng mô hình canh tác tại Cần Thơ, sản xuất từ 1–2 kg hạt giống rau màu thế hệ F1 cho mỗi loại và chuyển giao kỹ thuật cho ít nhất 100 hộ nông dân tại các vùng chuyên canh.
![]() |
![]() |
| Mô hình trồng khhor qua cho Nông dân có giống sạch |
![]() |
Giá trị của mô hình nằm ở việc kết nối nghiên cứu giống với nhu cầu sản xuất thực tế. Nguồn giống được nghiên cứu và sản xuất trong nước có thể góp phần giảm phụ thuộc vào hạt giống nhập khẩu, tăng khả năng chủ động về nguồn cung và tạo điều kiện để nông dân tiếp cận giống cây trồng phù hợp hơn.
Đặc biệt, các giống có khả năng kháng bệnh tốt có thể giúp giảm áp lực sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, qua đó hỗ trợ nâng cao chất lượng nông sản và giảm chi phí sản xuất. Khi quy trình canh tác được hướng dẫn và áp dụng đồng bộ, người trồng rau có thêm cơ sở để kiểm soát chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Trong bối cảnh đất nông nghiệp ven đô ngày càng thu hẹp, sản xuất quy mô nhỏ phải cạnh tranh với các hoạt động phi nông nghiệp, mô hình rau sạch còn gợi mở hướng phát triển nông nghiệp đô thị có giá trị cao trên một đơn vị diện tích. Với phụ nữ, đây là cơ hội tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản an toàn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp và từng bước nâng cao thu nhập ngay tại địa phương.
Xây dựng mạng lưới nhân giống khoai lang tím
Tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, một trong những vùng sản xuất khoai lang quan trọng, mô hình xây dựng mạng lưới nhân giống khoai lang tím được triển khai nhằm giải quyết vấn đề chất lượng nguồn giống, một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả canh tác.
Thay vì chỉ cung cấp giống cho từng vụ sản xuất, mô hình hướng đến xây dựng hệ thống nhân giống ba cấp gồm siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận. Cùng với đó là quy trình nhân giống phù hợp với điều kiện địa phương, các điểm trình diễn thực tế và hoạt động tập huấn kỹ thuật cho nông dân.
![]() |
![]() |
![]() |
| Nông dân đánh giá ruộng khoai lang tại Bình Tân với nhân giống Siêu nguyên chủng. |
Hai giống khoai lang được chú trọng là Tím Nhật và Hưng Lộc. Theo kết quả được trình bày trong tài liệu, năng suất bình quân của giống Hưng Lộc đạt 35,42 tấn/ha, giống Tím Nhật đạt 26,14 tấn/ha, trong khi giống đối chứng đạt 22,66 tấn/ha trong các khảo nghiệm được báo cáo. Ở các điểm trình diễn, năng suất ghi nhận của Hưng Lộc đạt 35,55 tấn/ha và Tím Nhật đạt 28,35 tấn/ha.
Những kết quả này cho thấy tiềm năng nâng cao năng suất thông qua việc lựa chọn giống phù hợp và tổ chức nhân giống có kiểm soát. Mô hình cũng ghi nhận việc sản xuất giống gốc ban đầu với 21,5 tấn củ Tím Nhật và 15,6 tấn củ Hưng Lộc; đồng thời cung cấp vật liệu nhân giống cho các điểm thí nghiệm tại địa phương.
Không chỉ tập trung vào năng suất, nhóm nghiên cứu còn đánh giá chất lượng củ, hiệu quả sử dụng phân bón và khả năng thích ứng của các giống trong những điều kiện canh tác khác nhau. Kết quả cho thấy việc sử dụng phân bón cần dựa trên yêu cầu của từng giống và đặc điểm đất đai, thay vì tăng lượng phân bón một cách thiếu căn cứ. Đây là cơ sở để hướng dẫn nông dân sử dụng vật tư hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư.
Một nội dung quan trọng khác là chuyển giao tri thức. Nhóm dự án đã tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo đầu bờ và hội thảo khoa học; đồng thời đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cho khoảng 200 người. Diện tích nông dân đăng ký trồng các giống mới được ghi nhận là 20,8 ha.
Việc hình thành mạng lưới nhân giống tại địa phương có ý nghĩa lâu dài: nông dân có thể chủ động hơn về nguồn giống đạt chất lượng, giảm phụ thuộc vào nguồn cung không ổn định và từng bước nâng cao năng lực tổ chức sản xuất. Với những phụ nữ tham gia sản xuất khoai lang, kiến thức về giống, kỹ thuật canh tác và quản lý đầu vào chính là những công cụ thiết thực để nâng cao hiệu quả kinh tế gia đình.
Canh tác xoài phục vụ xuất khẩu: Hướng tới chất lượng và thị trường
Tại Châu Phú, tỉnh An Giang, mô hình canh tác xoài phục vụ xuất khẩu đặt trọng tâm vào nghiên cứu, tuyển chọn giống có khả năng thích nghi với điều kiện địa phương, đồng thời đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường.
Giai đoạn nghiên cứu được xác định từ năm 2021 đến năm 2026, với mục tiêu chọn tạo ít nhất một giống xoài phù hợp điều kiện tự nhiên của An Giang, có chất lượng thịt quả tương đương hoặc cao hơn xoài cát Hòa Lộc, vỏ dày và thời gian bảo quản dài.
Các tiêu chí kỹ thuật được đặt ra khá cụ thể: độ Brix lớn hơn 20, thời gian bảo quản trên 35 ngày, độ dày vỏ trên 1,2 mm và tỷ lệ phần ăn được trên 75%. Đây là những yêu cầu hướng đến nâng cao chất lượng quả, kéo dài thời gian bảo quản và tăng khả năng đáp ứng yêu cầu vận chuyển, tiêu thụ ở thị trường xa.
![]() |
![]() |
![]() |
Để thực hiện mục tiêu này, nhóm nghiên cứu tiến hành tập hợp nguồn gen, vật liệu ban đầu, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và hoàn thiện các kỹ thuật chăm sóc cây ăn trái. Trong đó, bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides là một trong những đối tượng được chú ý trong quá trình đánh giá khả năng chống chịu.
Mô hình trồng xoài tại Châu Phú đã được triển khai trên diện tích 6 ha, cây cho trái sau ba năm và năng suất được ghi nhận đạt khoảng 30 tấn/ha. Cùng với việc xây dựng mô hình, hoạt động tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân được thực hiện nhằm đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
Khác với việc chỉ chú trọng mở rộng diện tích, mô hình hướng tới nâng cao giá trị sản phẩm thông qua giống, chất lượng và khả năng bảo quản. Đây là hướng tiếp cận cần thiết khi nông sản muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng hiện đại, nơi yêu cầu về độ đồng đều, an toàn và khả năng duy trì chất lượng sau thu hoạch ngày càng quan trọng.
Đối với người trồng xoài, trong đó có phụ nữ tham gia sản xuất và kinh doanh nông sản, việc tiếp cận kỹ thuật chăm sóc, kiểm soát sâu bệnh và nâng cao chất lượng quả có thể tạo thêm cơ hội cải thiện hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ tiềm năng của mô hình, việc tổ chức vùng nguyên liệu, liên kết tiêu thụ và đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường vẫn là những yếu tố cần được chú trọng.
Từ sáng kiến khoa học đến sinh kế bền vững
Bốn mô hình cho thấy những cách tiếp cận khác nhau trong việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu mô hình đậu phộng tập trung vào canh tác bền vững và sử dụng nguồn lực tại chỗ, mô hình rau sạch chú trọng chọn tạo giống và sản xuất an toàn; mô hình khoai lang hướng đến chủ động nguồn giống chất lượng, còn mô hình xoài đặt trọng tâm vào chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng thị trường xuất khẩu.
Điểm chung của các mô hình là kết nối nghiên cứu với thực tiễn, đưa kỹ thuật đến gần hơn với người sản xuất. Thay vì xem chuyển giao công nghệ chỉ là việc phổ biến một quy trình, các mô hình gắn quá trình này với xây dựng điểm trình diễn, tập huấn, hướng dẫn thực hành và từng bước hình thành năng lực chủ động cho nông dân.
![]() |
Đối với phụ nữ nông thôn, giá trị của các sáng kiến không chỉ nằm ở sản lượng hay năng suất cây trồng. Cơ hội tiếp cận tri thức, làm chủ kỹ thuật, tham gia chuỗi sản xuất và nâng cao khả năng tạo thu nhập cũng là những yếu tố quan trọng để cải thiện sinh kế. Khi được hỗ trợ đúng cách, phụ nữ có thể tham gia tích cực hơn vào quá trình đổi mới sản xuất, thay vì chỉ đảm nhận những công việc lao động giản đơn.
![]() |
Từ thực tiễn triển khai, có thể thấy khoa học và công nghệ chỉ phát huy hiệu quả bền vững khi được đặt trong mối quan hệ với điều kiện tự nhiên, nguồn lực của người dân và nhu cầu thị trường. Việc lựa chọn giống phù hợp, sử dụng vật tư hợp lý, giảm tổn thất và tăng cường liên kết tiêu thụ cần được thực hiện đồng bộ.
Bên cạnh đó, để các mô hình phát huy tác động rộng hơn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên kết giữa nhà khoa học, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; tăng khả năng tiếp cận vốn, thị trường và thông tin kỹ thuật; đồng thời chú trọng đào tạo, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
![]() |
Với GS.TS. Nguyễn Thị Lang và các cộng sự, hướng đi từ nghiên cứu đến đồng ruộng cho thấy vai trò thiết thực của nữ trí thức trong giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống. Khi tri thức khoa học được chuyển hóa thành kỹ thuật có thể áp dụng, thành nguồn giống chất lượng và phương thức sản xuất phù hợp, những sáng kiến nông nghiệp có thể trở thành một nguồn lực góp phần cải thiện sinh kế, thúc đẩy sản xuất bền vững và nâng cao vị thế của phụ nữ trong phát triển kinh tế địa phương.































GS.TS Nguyễn Thị Lang: “Nông nghiệp không chỉ cần năng suất, mà cần giá trị cho người nông dân"
Kết nối trí tuệ nữ, lan tỏa giá trị khoa học vì sự phát triển bền vững khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Ra mắt Chi hội Nữ trí thức Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nữ trí thức Đại học Khoa học Tự nhiên: Gắn nghiên cứu với đổi mới và chuyển giao công nghệ
Nữ trí thức Đồng Nai: Biến trí tuệ thành nguồn lực phát triển trong kỷ nguyên số
Hội Nữ trí thức TP.HCM - cầu nối tri thức, nguồn lực vì phụ nữ và trẻ em
Cùng chuyên mục
Bốn mô hình nông nghiệp công nghệ cao mở hướng sinh kế cho phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long
Từ rơm rạ đến đồng ruộng không khói: Sáng kiến của ba nữ sinh
Nhà sáng lập DKD Đào Thị Kim Dung phát triển hệ nano curcumin cho vết thương khó lành
LATOR tìm cách kiểm soát bọt mà không thêm hóa chất
Ba nữ sinh làm túi sinh học từ rơm rạ và hệ sợi nấm
Đỗ Hà My thử cách tìm xe buýt bằng giọng nói cho người cao tuổi