Đây là công việc mang tính kỹ thuật, nhưng ý nghĩa vượt ra ngoài những thông số của hình ảnh và âm thanh: chuẩn hóa là một bước cần thiết để nâng cao chất lượng bảo quản, lưu trữ và khai thác lâu dài di sản hình ảnh động của Việt Nam.
![]() |
| Kho lưu trữ phim tư liệu tại Viện Phim Việt Nam |
Khi một cuốn phim không chỉ là một cuốn phim
Một bộ phim, xét cho cùng, không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật được sản xuất để trình chiếu trong một khoảng thời gian nhất định. Trong những khuôn hình ấy có con người, địa danh, phong tục, đời sống xã hội, những biến động lịch sử và cả cách một thời đại nhìn nhận chính mình. Khi bộ phim được lưu giữ, những hình ảnh đó tiếp tục tồn tại như một nguồn tư liệu cho các thế hệ sau. Đó là lý do công tác lưu trữ phim có một vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa.
Viện Phim Việt Nam được thành lập năm 1979 trên cơ sở Phòng Tư liệu phim của Cục Điện ảnh, với chức năng lưu chiểu, lưu trữ phim, bảo quản tư liệu điện ảnh, nghiên cứu công nghệ lưu trữ và khai thác, phổ biến tư liệu điện ảnh. Chính Viện Phim Việt Nam xác định sự ra đời của mình là một dấu mốc quan trọng của công tác lưu trữ hình ảnh động tại Việt Nam. Trải qua nhiều thập niên, Viện trở thành nơi lưu giữ một khối lượng lớn phim và tư liệu hình ảnh động. Theo thông tin Viện công bố, hệ thống kho tại Hà Nội và TP.HCM hiện lưu trữ gần 80.000 cuốn phim nhựa cùng hàng chục nghìn băng, đĩa các loại. Kho tư liệu bao gồm các tác phẩm điện ảnh Việt Nam và nước ngoài, trong đó có nhiều tư liệu phản ánh các thời kỳ chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước.
Những con số ấy cho thấy quy mô của một nhiệm vụ mà nếu chỉ nhìn từ góc độ “giữ phim” sẽ khó thấy hết. Đó là giữ lại một phần ký ức bằng hình ảnh của quốc gia.
Năm tiêu chuẩn cho một bước chuyển công nghệ
Ngày 30/12/2024, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 4266/QĐ-BVHTTDL phê duyệt nội dung và dự toán kinh phí thực hiện dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc gia năm 2025-2026.
Trong danh mục dự án giao Viện Phim Việt Nam, có 5 tiêu chuẩn liên quan đến bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số (Digital Cinema Distribution Master - D-cinema).
Cụ thể gồm:
- Bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số - Phần 1: Đặc tính hình ảnh (Digital cinema (D-cinema) distribution master - Part 1: Image characteristics) [ISO 26428-1:2008].
- Bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số - Phần 2: Đặc tính âm thanh (Digital cinema (D-cinema) distribution master - Part 2: Audio characteristics) [ISO 26428-2:2008].
- Bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số - Định dạng tín tin giao diện kỹ thuật số - Phần 9: Cấu trúc điểm ảnh hình ảnh (Digital cinema (D-cinema) distribution master - Part 9: Image pixel structure level 3) [ISO 26428-9:2009].
- Bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số - Phần 11: Tốc độ hình bổ sung (Digital cinema (D-cinema) distribution master - Part 11: Additional frame rates) [ISO 26428-11:2011].
- Bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số - Phần 19: Định dạng tín hiệu giao diện kỹ thuật số nối tiếp cho tốc độ hình bổ sung mức AFR2 và mức AFR4 (Digital cinema (D-cinema) distribution master - Part 19: Serial digital interface signal formatting for additional frame rates level AFR2 and level AFR4) [ISO 26428-19:2011]
Theo quyết định, các dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc gia được triển khai từ năm 2025, thuộc kế hoạch thực hiện trong hai năm 2025-2026 và sử dụng nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ năm 2025 và 2026 cấp về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Nhìn qua, đây có thể được xem là một nhiệm vụ chuyên môn thuần túy về công nghệ điện ảnh. Nhưng đặt trong bối cảnh lưu trữ phim, ý nghĩa của nó rộng hơn. Khi điện ảnh chuyển mạnh sang môi trường số, những yêu cầu về hình ảnh, âm thanh, cấu trúc dữ liệu và tín hiệu kỹ thuật không còn là chuyện riêng của khâu sản xuất hay trình chiếu. Chúng liên quan trực tiếp đến khả năng tiếp nhận, quản lý, bảo quản và sử dụng các bản phim trong tương lai. Nói cách khác, muốn lưu trữ tốt trong thời đại số thì trước hết phải có chuẩn để lưu trữ.
Bảo quản không chỉ là giữ cho phim không hỏng
Với phim nhựa, bảo quản đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ, độ ẩm, điều kiện kho, tình trạng vật liệu và quy trình xử lý. Với tư liệu số, bài toán thay đổi nhưng không đơn giản hơn. Dữ liệu phải được tạo lập, lưu giữ và quản lý theo những chuẩn phù hợp để có thể tiếp tục được sử dụng khi công nghệ, thiết bị và phương thức khai thác thay đổi.
![]() |
| Hội thảo khoa học: Đánh giá chất lượng phim lưu trữ và các yếu tố ảnh hưởng |
Viện Phim Việt Nam từng xác định việc nghiên cứu công nghệ, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật là một trong những giải pháp nhằm kéo dài tuổi thọ phim lưu trữ. Viện cũng cho biết công tác bảo tồn bộ sưu tập phim được coi là nhiệm vụ hàng đầu, bên cạnh việc thường xuyên đánh giá tình trạng kỹ thuật của tư liệu để có biện pháp xử lý phù hợp.
Năm 2023, đoàn công tác của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra công tác bảo quản tại Viện Phim Việt Nam và ghi nhận Viện có quy trình bảo quản bản gốc phim nghiêm ngặt. Các kho phim được kiểm soát về nhiệt độ, độ ẩm; phim được kiểm tra, phân loại, làm sạch, tu sửa các khuyết tật cơ học, đóng gói và thực hiện các biện pháp bảo quản phù hợp.
Nhưng công nghệ không đứng yên. Những gì phù hợp với một hệ thống kỹ thuật ở thời điểm này có thể trở nên lạc hậu sau nhiều năm. Vì vậy, xây dựng tiêu chuẩn cho điện ảnh số không phải công việc làm một lần rồi kết thúc. Nó phải được nhìn như một phần của chiến lược bảo quản lâu dài.
Cần nhìn kho phim như một hạ tầng ký ức
Trong câu chuyện này, vai trò của Viện Phim Việt Nam đáng được quan tâm ở tầm rộng hơn một đơn vị chuyên môn của ngành điện ảnh. Chức năng của Viện được xác định rõ là lưu chiểu phim, lưu trữ phim và bảo quản các tư liệu điện ảnh; đồng thời nghiên cứu lý luận, công nghệ lưu trữ điện ảnh và khai thác, phổ biến tư liệu theo quy định.
Luật Điện ảnh cũng quy định cơ sở lưu trữ phim thuộc cơ quan văn hóa, thể thao và du lịch có trách nhiệm lưu trữ phim Việt Nam đã được cấp phép phân loại; cơ sở lưu trữ phim có trách nhiệm lưu trữ, cung cấp bản sao, in trích tư liệu cho chủ sở hữu phim và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Như vậy, bảo quản phim không phải một hoạt động phụ trợ. Đó là một chức năng gắn với trách nhiệm bảo tồn di sản điện ảnh.
Viện Phim Việt Nam cũng đã có quá trình hợp tác quốc tế lâu dài trong lĩnh vực này. Viện là thành viên của Liên đoàn các Viện Lưu trữ phim quốc tế (FIAF) và Hiệp hội Lưu trữ Nghe nhìn Đông Nam Á - Thái Bình Dương (SEAPAVAA). Viện từng tham gia xây dựng kho lưu trữ phim và video quốc gia cho Lào bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Việt Nam.
Năm 2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục giao Viện Phim Việt Nam chủ trì một đề án nghiên cứu, trao đổi, sưu tầm và phổ biến phim Việt Nam đang được lưu trữ ở nước ngoài, đồng thời nghiên cứu việc khai thác phim nước ngoài đang lưu trữ tại Viện. Đề án được xác định nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hình ảnh động.
Những nhiệm vụ ấy cho thấy công việc của Viện không chỉ là bảo quản những gì đang có trong kho. Đó còn là tìm kiếm, bổ sung, kết nối và đưa các nguồn tư liệu trở lại với đời sống.
![]() |
| Máy lau rửa phim siêu âm |
Đầu tư cho Viện Phim là đầu tư cho khả năng lưu giữ quá khứ
Chính vì vậy, nhiệm vụ xây dựng 5 tiêu chuẩn quốc gia lần này cần được đặt trong một bài toán lớn hơn: nâng cao năng lực lưu trữ hình ảnh động của Việt Nam trong thời đại số.
Tiêu chuẩn là nền tảng, nhưng để nền tảng ấy vận hành hiệu quả cần có hệ thống đi kèm: kho bảo quản phù hợp, thiết bị chuyên dụng, hạ tầng lưu trữ số, giải pháp sao lưu và bảo đảm an toàn dữ liệu, thiết bị số hóa, nhân lực có chuyên môn và nguồn kinh phí đủ để duy trì hoạt động lâu dài. Nếu thiếu một trong những mắt xích ấy, quá trình bảo tồn có thể gặp khó khăn.
Đặc biệt, tư liệu hình ảnh động có một đặc điểm khác với nhiều loại hình tư liệu khác: giá trị của nó nằm rất lớn ở chính hình ảnh và âm thanh. Khi một bản phim xuống cấp hoặc một định dạng dữ liệu trở nên không thể đọc được, những gì mất đi không chỉ là một vật mang tin. Có thể đó là một khuôn mặt, một giọng nói, một sự kiện hoặc một hình ảnh mà không thể tái tạo lại.
Bởi vậy, đầu tư cho Viện Phim Việt Nam cần được nhìn nhận như đầu tư cho hạ tầng lưu giữ ký ức bằng hình ảnh của quốc gia.
Đó không chỉ là đầu tư cho ngành điện ảnh hôm nay mà còn cho các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà làm phim, cơ quan truyền thông và công chúng của nhiều năm sau.
Từ chuẩn kỹ thuật đến trách nhiệm với các thế hệ sau
Việc Viện Phim Việt Nam triển khai xây dựng 5 tiêu chuẩn quốc gia về bản gốc phân phối điện ảnh kỹ thuật số vì thế có thể xem là một bước cụ thể trong quá trình chuẩn hóa công tác lưu trữ điện ảnh trước những thay đổi của công nghệ. Điều quan trọng là nhiệm vụ này cần được tiếp tục bằng những chính sách đầu tư tương xứng cho toàn bộ hệ thống bảo quản, lưu trữ và khai thác. Bởi một tiêu chuẩn tốt chỉ thực sự có ý nghĩa khi có đủ điều kiện để áp dụng.
Và một kho phim chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi những hình ảnh được gửi lại trong đó không chỉ an toàn hôm nay, mà vẫn có thể được tìm thấy, xem lại và nghiên cứu trong nhiều thập niên sau.
Trong thời đại mà những hình ảnh mới được tạo ra với tốc độ chưa từng có, việc giữ lại những hình ảnh của quá khứ càng trở nên quan trọng.
Đó là lý do công tác lưu trữ hình ảnh động cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ văn hóa, khoa học và công nghệ lâu dài; và Viện Phim Việt Nam, với chức năng lưu trữ, bảo quản khối lượng lớn tư liệu điện ảnh, cần được quan tâm đầu tư tương xứng để thực hiện tốt hơn vai trò này.
























Vì sao Viện Phim Việt Nam xây dựng Đề án sưu tầm, hồi hương phim Việt ở nước ngoài?
Đoàn Viện Lưu trữ Phim Bangladesh hoàn thành xuất sắc chương trình thực tập, trao đổi kinh nghiệm tại Viện Phim Việt Nam
Ra mắt bản dịch “Những gì tôi thấy ở Việt Nam” của đạo diễn Ajdar Ibrahimov tại Viện Phim Việt Nam
Viện Phim Việt Nam tổ chức chiếu phim chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Viện Phim Việt Nam – Bảo tàng tư liệu hình ảnh động quốc gia: Gìn giữ ký ức dân tộc qua từng thước phim
Kho phim Viện Phim Việt Nam – Bảo vật điện ảnh giữa cuộc cách mạng số
Cùng chuyên mục
HANIFF VIII: Khi kho tư liệu điện ảnh cần một cách kể mới
Chuẩn hóa lưu trữ điện ảnh số: Đầu tư cho ký ức hình ảnh quốc gia
Cái giá kinh hoàng phải trả trong siêu phẩm kinh dị "Tế Nhi Cải Mệnh"
Khán giả Việt chấm 9.9/10, “Yêu Nhân Thần Thám” gây ấn tượng bởi thế giới kỳ ảo và câu chuyện vượt qua định kiến
Kiều Diễm: Gen Z chọn đi đường dài với điện ảnh
“Dượng Bảy” – Sức sống bền bỉ giữa đại ngàn Sơn Tây Thượng