Tăng trưởng kinh tế thường được nhìn trước hết qua một con số: GDP tăng bao nhiêu phần trăm. Nhưng nếu muốn duy trì nhịp đi lên trong nhiều năm, câu hỏi khó hơn nằm ở phía sau con số ấy: nền kinh tế đang lớn lên nhờ tăng thêm vốn, thêm lao động hay nhờ sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn?
Đó là một trong những câu hỏi mà TS. Nguyễn Quỳnh Trang, giảng viên Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đang theo đuổi trong các nghiên cứu gần đây. Tháng 6/2026, nhà trường công bố kết quả đề tài “Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới” do TS. Nguyễn Quỳnh Trang chủ nhiệm, được thực hiện trong năm 2025.
![]() |
| TS. Nguyễn Quỳnh Trang trình bày tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Liên bang Nga 2026, tổ chức tháng 4/2026 tại Hà Nội. |
Nghiên cứu không chỉ nhìn tăng trưởng từ một phía. Ở phía cung, nhóm xem xét vốn, lao động, chất lượng lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP, đồng thời đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế vào mối liên hệ với năng suất. Ở phía cầu là tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu ròng.
Cách tiếp cận ấy mở ra một câu hỏi thực tế: nếu tăng trưởng vẫn cần vốn và lao động, phần tăng thêm trong tương lai sẽ đến từ đâu khi hai nguồn lực này không thể mở rộng vô hạn? Trong nghiên cứu, TFP vì thế trở thành một mắt xích quan trọng bên cạnh quy mô đầu tư và số lượng lao động.
Nhìn lại cách các nền kinh tế Đông Á đã tăng trưởng
Để tìm điểm đối chiếu, nhóm nghiên cứu đặt Việt Nam bên cạnh những giai đoạn tăng trưởng cao của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc. Đây không phải phép so sánh nhằm sao chép một mô hình có sẵn. Các nền kinh tế khác nhau về thời điểm phát triển, quy mô thị trường và điều kiện thể chế. Việc đối chiếu giúp nhận diện rõ hơn cấu phần nào đã đóng vai trò trong những giai đoạn tăng trưởng nhanh.
Tại tọa đàm ngày 30/9/2025 của đề tài mã số KT25.01, TS. Nguyễn Quỳnh Trang trình bày kết quả so sánh này. Nhóm nghiên cứu nhận định tăng trưởng của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào vốn và tiêu dùng cá nhân, trong khi đóng góp của TFP và chất lượng lao động còn hạn chế so với yêu cầu đặt ra. Nhóm cũng chỉ ra sự khác biệt về mức độ phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo khi đặt Việt Nam cạnh các nền kinh tế Đông Á trong những thời kỳ tăng trưởng mạnh.
![]() |
| TS. Nguyễn Quỳnh Trang, trưởng nhóm nghiên cứu, trình bày báo cáo tại tọa đàm của đề tài “Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới” năm 2025. |
Từ phân tích đó, các hướng được nhóm nghiên cứu đề xuất gồm nâng đóng góp của TFP, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, cải thiện thể chế, môi trường kinh doanh và phát huy khu vực kinh tế tư nhân. Đây là các kết luận, khuyến nghị của nhóm nghiên cứu, không đồng nghĩa những yếu tố này tự động tạo ra mức tăng trưởng cụ thể trong thực tế.
Trục nghiên cứu này gặp một vấn đề rộng hơn mà kinh tế Việt Nam đang phải xử lý: tăng trưởng dựa vào quy mô nguồn lực khác với tăng trưởng nhờ nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong chiến lược phát triển hiện nay, vai trò của khoa học, công nghệ như một động lực của phát triển đến năm 2030 cũng ngày càng được đặt rõ hơn.
Từ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đến câu hỏi của cả nền kinh tế
Mối quan tâm của TS. Nguyễn Quỳnh Trang với năng suất không xuất hiện từ riêng đề tài năm 2025. Hồ sơ chuyên môn của Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN cho biết TS. Nguyễn Quỳnh Trang từng là nghiên cứu viên chính tại Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các hướng nghiên cứu của chị trải từ chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, TFP, năng suất lao động đến kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. TS. Nguyễn Quỳnh Trang nhận bằng tiến sĩ kinh tế học tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2024.
Một lát cắt cụ thể hơn xuất hiện trong bài báo quốc tế công bố năm 2025 về tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước. Đây là công trình đồng tác giả, không phải nghiên cứu riêng của TS. Nguyễn Quỳnh Trang.
Bài báo sử dụng dữ liệu doanh nghiệp giai đoạn 2014-2018 và phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên để xem xét hai kênh lan tỏa FDI: theo chiều ngang và liên kết ngược. Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong bộ dữ liệu này, doanh nghiệp FDI tạo ra tác động âm đối với hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước ở cả hai kênh được xem xét; đồng thời, doanh nghiệp có lao động kỹ năng cao hơn có khả năng giảm bớt tác động bất lợi từ liên kết ngược.
Mốc dữ liệu 2014-2018 cần được giữ nguyên khi đọc kết quả này. Công trình được xuất bản năm 2025 nhưng không phải bức ảnh chụp hiện trạng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025 hay 2026. Giá trị của nó nằm ở bằng chứng thực nghiệm đối với giai đoạn được nghiên cứu, thay vì cho phép kéo thẳng kết luận sang tình hình hiện tại.
![]() |
| Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng của Việt Nam với một số nền kinh tế Đông Á được nhóm nghiên cứu sử dụng trong đề tài. Trên biểu đồ ghi nguồn dữ liệu WDI, Conference Board Data và tài liệu của Xiaoming Huang. |
Đến tháng 4/2026, tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Liên bang Nga 2026, TS. Nguyễn Quỳnh Trang tiếp tục trình bày tham luận về các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Việt Nam, lần này đặt thêm vấn đề hợp tác thương mại Việt Nam - Nga trong bối cảnh mới. Diễn đàn quy tụ các nghiên cứu về kinh tế, thương mại, năng lượng, tài chính, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; tham luận của TS. Nguyễn Quỳnh Trang là một trong các nội dung chuyên môn của chương trình.
Nhìn liền mạch từ nghiên cứu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, các báo cáo về tăng trưởng năm 2025 đến đề tài được giới thiệu kết quả trong tháng 6/2026, có thể thấy câu hỏi mà TS. Nguyễn Quỳnh Trang theo đuổi ngày càng được mở rộng về quy mô nhưng vẫn xoay quanh một trục khá rõ: chất lượng của tăng trưởng hình thành như thế nào.
Nếu chỉ nhìn số vốn được bỏ ra hay số lao động được huy động, một phần của câu chuyện sẽ còn thiếu. Trong các nghiên cứu do TS. Nguyễn Quỳnh Trang thực hiện hoặc tham gia, phần còn lại được tìm kiếm ở năng suất, kỹ năng lao động, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thể chế. Đó cũng là lý do kết quả đề tài được công bố trong năm 2026 có tính thời sự hơn một hồ sơ thành tích đơn thuần: công việc nghiên cứu vẫn đang tiếp diễn và được đưa vào các diễn đàn trao đổi chính sách trong cùng năm.





















Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Nữ trí thức và bài toán nguồn nhân lực chất lượng cao
Kết nối công nghệ xanh và kinh tế số từ mạng lưới nữ trí thức Việt Nam
Khoa học, công nghệ trở thành động lực chủ yếu trong chiến lược phát triển đến năm 2030
Cùng chuyên mục
Đi tìm động lực tăng trưởng không chỉ từ vốn và lao động
TS. Trịnh Thục Hiền nối công nghệ và giới trong đào tạo luật
Đo sức mạnh văn hóa cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
Nhà văn-Đạo diễn Nguyễn Thu Phương: Trăn trở và viết về phụ nữ là mục đích lâu dài của tôi
Học suốt đời và hành trình không ngừng làm mới mình của phụ nữ trí thức
Nữ doanh nhân Nguyễn Thị Ngọc và hành trình trao nghề, trao cơ hội cho người yếu thế