![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương chủ trì tọa đàm tham vấn Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ VHTTDL |
Một địa phương có thể thống kê số lễ hội, di tích, thư viện hay nhà văn hóa. Nhưng những con số ấy chưa trả lời được người dân có thực sự tham gia đời sống văn hóa hay không, người làm sáng tạo có sống được bằng nghề hay một giá trị truyền thống đang được trao truyền đến thế hệ sau như thế nào.
Đó là khoảng trống mà PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, cùng các nhà nghiên cứu đang tìm cách thu hẹp khi tham gia xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia.
Thay vì chỉ khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển, cách tiếp cận này đặt ra một yêu cầu khó hơn: nguồn lực ấy phải được nhận diện, đo lường và kiểm chứng bằng dữ liệu.
Khi văn hóa cần được nhìn qua dữ liệu
Tại tọa đàm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 26/6/2026, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương giới thiệu dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, hay V-Culture Index. Dự thảo gồm 26 chỉ số, chia thành năm nhóm.
Ba nhóm đầu liên quan đến chính sách và quản trị; hạ tầng và tài nguyên văn hóa; khả năng tiếp cận, thực hành và tham gia văn hóa. Hai nhóm còn lại tập trung vào công nghiệp văn hóa, sáng tạo và mối quan hệ giữa giá trị, bản sắc với phát triển con người.
Cấu trúc này cho thấy một sự dịch chuyển đáng chú ý. Phát triển văn hóa không chỉ được nhìn qua số lượng di sản hay thiết chế đã có, mà còn phải xem xét mức chi tiêu văn hóa của hộ gia đình, hoạt động sáng tạo nghệ thuật, khả năng tiếp cận không gian công cộng và mức độ tham gia của người dân.
Ở lĩnh vực công nghiệp văn hóa, dự thảo đưa vào những vấn đề có thể tác động trực tiếp đến sinh kế của người sáng tạo: đóng góp vào GDP, việc làm, năng suất lao động, số lượng doanh nghiệp, thương mại quốc tế, bảo hộ quyền tác giả và khả năng hỗ trợ thị trường.
Trong khi đó, nhóm chỉ số về giá trị và phát triển con người không bỏ qua những phần khó quy đổi thành doanh thu, như việc trao truyền tri thức văn hóa, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số, giáo dục đa ngôn ngữ hay đào tạo nghệ thuật.
Cách sắp xếp ấy tránh đặt kinh tế và bản sắc ở hai phía đối lập. Một nền văn hóa mạnh cần tạo ra việc làm, sản phẩm và thị trường, nhưng đồng thời phải duy trì được ký ức cộng đồng, khả năng sáng tạo và cơ hội tham gia của con người.
Năm câu hỏi dành cho một địa phương
- Chính sách văn hóa có minh bạch và bao trùm không?
- Người dân có đủ không gian và điều kiện tiếp cận văn hóa không?
- Tài nguyên văn hóa được bảo tồn và khai thác ra sao?
- Người sáng tạo có việc làm, thị trường và sự bảo vệ bản quyền không?
- Giá trị văn hóa có tiếp tục được trao truyền cho thế hệ sau không?
Đo lường không có nghĩa là giản lược
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương phân tích những điểm nghẽn thể chế của công nghiệp văn hóa. Ảnh: Báo Đại biểu Nhân dân |
Nỗ lực đưa văn hóa vào một hệ thống chỉ số cũng kéo theo những câu hỏi thận trọng. Một nhà văn hóa được xây dựng không đồng nghĩa với việc nó đang hoạt động hiệu quả. Số người đến một lễ hội chưa cho biết cộng đồng địa phương có vai trò gì trong việc tổ chức và thụ hưởng. Một sản phẩm bán được nhiều cũng chưa đương nhiên đại diện cho giá trị văn hóa lâu dài.
Ngay tại phiên tham vấn, các chuyên gia lưu ý một số khái niệm trong dự thảo vẫn cần được làm rõ. “Không gian công cộng phục vụ mục đích văn hóa” có phạm vi đến đâu? Chi tiêu văn hóa của hộ gia đình sẽ được thu thập bằng cách nào? Hoạt động trao truyền trong cộng đồng cần được phân biệt ra sao với giáo dục trong nhà trường?
Đây là những vấn đề quan trọng bởi chỉ số chỉ có giá trị khi dữ liệu giữa các địa phương có thể so sánh và phương pháp thu thập đủ minh bạch. Nếu thiết kế chưa chặt chẽ, việc đánh giá có thể nghiêng về những gì dễ đếm, trong khi những thay đổi âm thầm trong đời sống cộng đồng lại bị bỏ sót.
Vì thế, một bộ chỉ số không thể thay thế khảo sát thực địa, nghiên cứu định tính hay tiếng nói của người dân. Nó nên được xem là công cụ giúp nhà quản lý biết cần đặt câu hỏi ở đâu, chứ không phải một bảng điểm duy nhất quyết định địa phương nào có đời sống văn hóa “tốt hơn”.
Yêu cầu về dữ liệu này cũng gặp nhau với câu chuyện số hóa dữ liệu văn hóa theo hướng thống nhất, liên thông đang được đặt ra ở quy mô quốc gia. Không có dữ liệu chuẩn hóa, việc theo dõi hiệu quả chính sách hoặc nhận diện phần nguồn lực đang bị bỏ quên sẽ rất khó khăn.
Từ tiềm năng đến năng lực vận hành
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương tại phiên thảo luận về phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số. Ảnh: VICAST |
Bộ chỉ số văn hóa không phải mối quan tâm đơn lẻ trong công việc của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương. Trong nhiều diễn đàn, nhà nghiên cứu tập trung vào sức mạnh mềm, công nghiệp văn hóa và những điều kiện để tài nguyên văn hóa được chuyển hóa thành năng lực phát triển.
Theo cách tiếp cận này, sở hữu nhiều di sản, lễ hội hay chất liệu nghệ thuật mới chỉ là điểm khởi đầu. Muốn biến chúng thành sức hấp dẫn và ảnh hưởng thực tế, Việt Nam còn cần mục tiêu rõ ràng, chiến lược phù hợp, năng lực sáng tạo, cơ chế phản hồi và mạng lưới đưa sản phẩm đến với công chúng.
Tháng 11/2025, khi phân tích điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng khung thể chế còn phân tán giữa nhiều lĩnh vực quản lý. Văn hóa, công nghệ, du lịch, thương mại và phát triển đô thị chưa có một cơ chế điều phối đủ mạnh; các hình thức khuyến khích đầu tư tư nhân, hợp tác công – tư và thử nghiệm mô hình mới cũng còn thiếu.
Nhận định ấy giúp giải thích vì sao một nơi có nhiều tài nguyên văn hóa vẫn có thể thiếu sản phẩm đủ sức cạnh tranh. Vấn đề không chỉ nằm ở ý tưởng của nghệ sĩ, mà còn ở bản quyền, nguồn vốn, công nghệ, cơ chế đặt hàng, khả năng tiếp cận thị trường và quyền chủ động của địa phương.
Đây cũng là bối cảnh của yêu cầu xây dựng cơ chế hỗ trợ đặc thù cho công nghiệp văn hóa. Khi chính sách tác động đồng thời đến nhiều ngành, dữ liệu có thể giúp xác định khoản đầu tư nào tạo ra việc làm, mở rộng công chúng hoặc khuyến khích sáng tạo thực chất.
Đưa tri thức ra khỏi hội thảo
Một nét khác trong hoạt động của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương là nỗ lực đưa các khái niệm về sức mạnh mềm và công nghiệp văn hóa đến gần người học.
Tại một chương trình dành cho sinh viên vào tháng 6/2025, nhà nghiên cứu không chỉ trình bày lý thuyết mà còn khuyến khích người trẻ rèn tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và kỹ năng kể chuyện văn hóa. Đây là những năng lực cần thiết nếu sinh viên muốn tham gia các lĩnh vực như sản xuất nội dung, truyền thông, du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện hay ngoại giao văn hóa.
Khoảng cách giữa nghiên cứu và công chúng cũng đang được nhiều người trẻ tìm cách thu hẹp, như câu chuyện dùng ngôn ngữ truyền thông để kể văn hóa bản địa của NCS Nguyễn Huỳnh Thanh Phương.
Một bên nghiên cứu công cụ quản trị ở tầm quốc gia, một bên đi vào đời sống cộng đồng. Hai hướng tiếp cận gặp nhau ở điểm văn hóa chỉ trở thành nguồn lực khi tri thức có thể đi ra khỏi báo cáo, được người dân hiểu, tham gia và tiếp tục làm giàu.
Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Giá trị của công cụ này vì thế chưa nằm ở một bảng xếp hạng, mà ở việc buộc chính sách văn hóa phải trả lời bằng bằng chứng: ai được tiếp cận, ai đang sáng tạo, giá trị nào được trao truyền và khoản đầu tư nào thực sự làm đời sống văn hóa tốt hơn.
Trong hành trình đó, đóng góp đáng chú ý của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương là đưa một khái niệm thường được diễn đạt bằng những lời lớn lao — sức mạnh văn hóa — về gần hơn với những câu hỏi có thể quan sát, đo lường và chịu trách nhiệm.



















Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu số hóa dữ liệu văn hóa theo hướng thống nhất, liên thông
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị ưu đãi đặc thù cho công nghiệp văn hóa
Nghiên cứu sinh Nguyễn Huỳnh Thanh Phương dùng ngôn ngữ truyền thông kể chuyện văn hoá bản địa
Cùng chuyên mục
Đo sức mạnh văn hóa cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
Nhà văn-Đạo diễn Nguyễn Thu Phương: Trăn trở và viết về phụ nữ là mục đích lâu dài của tôi
Học suốt đời và hành trình không ngừng làm mới mình của phụ nữ trí thức
Nữ doanh nhân Nguyễn Thị Ngọc và hành trình trao nghề, trao cơ hội cho người yếu thế
Nghệ nhân Ưu tú Ý Lan - Khi sắc màu tự nhiên của cát thành tranh
TS Nguyễn Phan Quế Mai nối văn học Việt với bạn đọc thế giới