Một mũi khoan đá rất nhỏ có thể cho biết người xưa đã chế tác công cụ như thế nào. Nhưng khi cùng một địa điểm xuất hiện hàng nghìn mảnh tước, phác vật, mũi khoan và hàng trăm bàn mài, câu hỏi đã khác. Đó không còn là câu chuyện của một hiện vật riêng lẻ mà là cách một cộng đồng tổ chức sản xuất, sử dụng nguyên liệu và có thể đưa sản phẩm đi đến những nơi khác.
TS. Phạm Bảo Trâm, nhà khảo cổ công tác tại Bảo tàng Đắk Lắk, là một trong những người trực tiếp tham gia các đợt khảo sát, khai quật và nghiên cứu Di chỉ Thác Hai bên sông Ea H’leo. VOV ghi nhận bà có mặt trong nhóm khảo cổ của bảo tàng từ quá trình phát hiện, khai quật đến việc theo dõi từng tầng văn hóa của di chỉ. Thác Hai hiện được nhận diện là một di chỉ phức hợp, có dấu tích cư trú, mộ táng và hoạt động chế tác mũi khoan đá.
![]() |
| TS. Phạm Bảo Trâm ghi chép tư liệu trong hố khai quật tại Di chỉ Thác Hai, Đắk Lắk. Ảnh Báo Sài Gòn Giải Phóng. |
Từ những vết mài ở Thác Hai
Trong khảo cổ học, vị trí một hiện vật nằm ở đâu quan trọng không kém bản thân hiện vật ấy. Tại Thác Hai, đất được bóc theo từng lớp, bề mặt được làm sạch, chụp ảnh và ghi chép trước khi tiếp tục xuống sâu. TS. Phạm Bảo Trâm từng giải thích việc giữ được thông tin về tầng văn hóa giúp nhà nghiên cứu xác định niên đại và tái dựng lịch sử của địa điểm, thay vì chỉ thu gom những món đồ đẹp hoặc lạ.
Một phần dữ liệu mới được bà hệ thống lại trong bài viết về sưu tập bàn mài đá công bố tháng 4/2026. Sau bốn đợt khai quật từ năm 2021 đến 2025, hơn 540 tiêu bản và mảnh bàn mài được ghi nhận trên diện tích khai quật hơn 110 m². Khoảng 400 tiêu bản thuộc nhóm bàn mài phẳng và lõm, hơn 70 tiêu bản có rãnh. Những rãnh dài, hẹp trên một số bàn mài phù hợp với việc gia công các công cụ dạng thanh nhỏ như mũi khoan.
Giá trị của những bàn mài chỉ hiện rõ khi đặt cạnh các loại di vật khác. Bàn mài, mũi khoan, phác vật, rìu đá và lượng lớn mảnh tước cùng xuất hiện trong tầng văn hóa cho phép các nhà khảo cổ nhận diện nhiều công đoạn của quá trình chế tác tại chỗ. Sự hiện diện đồng thời của bàn mài thô và bàn mài mịn cũng cung cấp thêm căn cứ về cách cư dân hoàn thiện công cụ theo những bước khác nhau.
Nổi bật trong toàn bộ hệ thống di vật là Sưu tập mũi khoan đá Thác Hai, được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2024. Cục Di sản văn hóa xác nhận sưu tập gồm 250 hiện vật, trong đó có 200 mũi khoan hoàn chỉnh và 50 phác vật, có niên đại khoảng 4.000–3.000 năm cách ngày nay. Các mũi khoan được chế tác từ opal, silex và phtanite, với nhiều công đoạn từ ghè đẽo, tu chỉnh tới mài.
![]() |
| Người dân và đại biểu tìm hiểu tư liệu về Di chỉ Thác Hai tại triển lãm chuyên đề ở Krông Pắc, tháng 3/2026. Ảnh Bảo tàng Đắk Lắk. |
Một chi tiết mở ra bài toán lớn hơn là nhiều mũi khoan trong sưu tập chưa có dấu hiệu sử dụng. Dọc sông Ea H’leo cũng đã xuất hiện những địa điểm có nguyên liệu, mảnh tước và hiện vật mang nét tương đồng. Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa xem đây là dữ liệu để tiếp tục tìm hiểu khả năng tồn tại một mạng lưới công xưởng và trao đổi giữa Tây Nguyên với vùng Tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh ở phía Đông cũng như các địa điểm phía Tây Campuchia. Đây mới là hướng nghiên cứu được gợi mở, không phải bằng chứng đủ để xác định chính xác một tuyến thương mại cổ hay nơi đến cuối cùng của từng sản phẩm.
Cách đặt giới hạn ấy quan trọng. Một hiện vật giống nhau ở hai nơi có thể liên quan tới trao đổi vật phẩm, truyền kỹ thuật, sự di chuyển của con người hoặc những quá trình khác. Khảo cổ học phải tìm thêm bối cảnh phát hiện, niên đại, vật liệu và những nhóm hiện vật đi kèm trước khi nối các điểm trên bản đồ thành một đường giao lưu.
Từ mũi khoan đá đến những chiếc trống đồng
Ngày 22/9/2026, hướng nhìn liên vùng ấy xuất hiện rõ hơn trong một khảo cứu về trống đồng do TS. Phạm Bảo Trâm cùng đồng nghiệp thực hiện trên website Bảo tàng Đắk Lắk. Thay vì xem các trống đồng ở cao nguyên và duyên hải như những phát hiện tách biệt, bài viết đặt chúng cạnh địa hình, lưu vực sông và những hành lang tự nhiên có thể nối hai khu vực trong quá khứ.
Tài liệu ghi nhận Đắk Lắk là địa bàn có số trống đồng được phát hiện nhiều nhất ở Tây Nguyên, với 16 chiếc được ghi nhận từ năm 1984. Ở khu vực Phú Yên cũ, trống đồng cũng được tìm thấy tại Hòa Đồng, Hòa Tân Tây, Hòa Mỹ Tây, Sơn Thành Đông và một số địa điểm phía Tây gắn với lưu vực sông Ba. Khi đặt những vị trí ấy trong tương quan địa hình, các thung lũng, dòng sông và tuyến vượt đèo trở thành những yếu tố cần được xem xét khi nghiên cứu sự di chuyển giữa duyên hải và cao nguyên.
Một số trống ở hai khu vực có những đặc điểm tương đồng về hình thức và được đặt trong khoảng niên đại bước đầu khoảng 2.500–2.000 năm cách ngày nay. Nhưng khảo cứu không đi đến kết luận rằng chúng cùng một nơi sản xuất hay đã được đưa qua một tuyến đường xác định. Chính TS. Phạm Bảo Trâm và đồng nghiệp lưu ý sự giống nhau về hình thức chưa đủ để xác định nguồn gốc hoặc con đường lưu truyền. Muốn tiến xa hơn cần kết hợp hình thái học với kỹ thuật đúc, thành phần hợp kim, dấu vết sử dụng và bối cảnh khảo cổ của từng địa điểm.
![]() |
| Trống Ea Pan, một trong những trống đồng được sử dụng trong khảo cứu về mối liên hệ giữa cao nguyên Đắk Lắk và vùng duyên hải. Ảnh Bảo tàng Đắk Lắk. |
Điểm này làm cho hai nhánh công việc tưởng như khác nhau – mũi khoan đá ở Thác Hai và trống đồng – gặp nhau ở một câu hỏi. Cao nguyên trong quá khứ kết nối với những vùng xung quanh như thế nào? Một bên đi từ dấu tích của quá trình sản xuất, một bên đi từ sự phân bố và đặc điểm của hiện vật kim khí. Cả hai đều đòi hỏi nhà nghiên cứu không dừng lại ở việc mô tả món đồ đang có trong tay.
Công việc của TS. Phạm Bảo Trâm cũng đi ra khỏi hố khai quật. Tháng 3/2026, Bảo tàng Đắk Lắk đưa triển lãm “Đắk Lắk – Di sản 4.000 năm – Câu chuyện từ Di chỉ Thác Hai” tới xã Krông Pắc. Hình ảnh, tư liệu, công cụ đá, mảnh gốm và Bảo vật quốc gia được tổ chức thành một câu chuyện dành cho người xem không chuyên. TS. Phạm Bảo Trâm trực tiếp giới thiệu di chỉ cho học sinh tham quan triển lãm.
Đưa hiện vật ra trước công chúng không thay thế việc nghiên cứu chuyên môn, nhưng giúp phần tri thức vốn nằm trong địa tầng, báo cáo khai quật và kho lưu trữ trở thành một phần của đời sống hiện tại. Đây cũng là một điểm nối tự nhiên với câu chuyện về cách người trẻ dùng ngôn ngữ truyền thông để kể lại văn hóa bản địa.
Tháng 3/2026, TS. Phạm Bảo Trâm còn có bài viết về không gian cư trú và bản sắc của người Êđê ở Sông Hinh. Công việc của bà vì thế không bó hẹp trong khảo cổ tiền sử mà còn chạm tới bảo tàng học và nghiên cứu văn hóa cộng đồng. Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất trong chuỗi hoạt động năm nay vẫn là cách những dữ liệu khảo cổ đang được đặt vào quan hệ rộng hơn giữa cao nguyên và duyên hải.
Từ một rãnh mài trên đá, một mũi khoan chưa qua sử dụng đến hoa văn trên mặt trống đồng, các dấu vết đều rất nhỏ so với câu hỏi mà chúng có thể mở ra. Cách làm của TS. Phạm Bảo Trâm cho thấy khảo cổ học không phải việc tìm một món đồ cổ rồi gán ngay cho nó một câu chuyện hoàn chỉnh. Giá trị nằm ở việc giữ bối cảnh, so sánh bằng chứng và biết dừng ở nơi dữ liệu chưa cho phép đi xa hơn. Chính sự thận trọng đó mới giúp những đường nối giữa cao nguyên với duyên hải dần hiện ra mà không biến giả thuyết thành sự thật đã được chứng minh.



















Nghiên cứu sinh Nguyễn Huỳnh Thanh Phương dùng ngôn ngữ truyền thông kể chuyện văn hoá bản địa
Thời trang hóa giúp nâng tầm thổ cẩm Ê Đê
Đo sức mạnh văn hóa cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
Cùng chuyên mục
Vật liệu nickel trong phép thử của TS. Vũ Thị Duyên
Những dấu vết cổ nối Tây Nguyên với vùng duyên hải
TS. Nguyễn Thị Trúc Mai chọn giống sắn chống chịu bệnh hại
Theo dấu rủi ro khí hậu trên vùng cà phê Tây Nguyên
Giải mã “chiếc đồng hồ” sinh lý của hạt lúa để rút ngắn thời gian trưởng thành
Theo dấu khoảng cách giữa nghiệm gần đúng và nghiệm chính xác