![]() |
| TS. Nguyễn Thị Trúc Mai tại mô hình trồng sắn ở xã Vân Hòa. Ảnh đăng trên trang Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk. |
Bệnh khảm lá đã đặt ra một yêu cầu mới cho công việc nghiên cứu cây sắn của TS. Nguyễn Thị Trúc Mai. Trong cuộc trao đổi với Báo Đắk Lắk tháng 12/2025, chị nhắc lại đợt phát hiện bệnh tại xã Ea Ly vào tháng 8/2018. Khi ấy, 10 ha sắn giống HLS11 được ghi nhận có tỷ lệ cây bị hại 100%. Từ vấn đề trên đồng ruộng, hướng chọn giống phải tính đến cả khả năng chống chịu bệnh, bên cạnh năng suất và lượng tinh bột thu được.
Hai giống KM568 và KM537 là kết quả của hướng nghiên cứu ấy. Đề tài do TS. Nguyễn Thị Trúc Mai và TS. Hoàng Kim đồng chủ nhiệm được nghiệm thu ngày 11/11/2025. Đến tháng 1/2026, kết quả thực hiện nhiệm vụ được đăng ký tại Trung tâm Thông tin – Ứng dụng Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk. Vùng nghiên cứu thuộc tỉnh Phú Yên trước đây, nay là phía Đông Đắk Lắk.
Trước khi theo đuổi đề tài này, TS. Nguyễn Thị Trúc Mai đã nghiên cứu tuyển chọn giống sắn và kỹ thuật thâm canh trong luận án tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, giai đoạn 2014–2017. Chị xem xét giống nào phù hợp với Phú Yên, đồng thời tìm hiểu mật độ trồng, cách bón phân và thời điểm thu hoạch. Với giống KM419, nghiên cứu còn tính đến việc bố trí vụ xuân, vụ hè để kéo dài thời gian cung cấp nguyên liệu cho nhà máy. Công việc chọn giống vì thế gắn ngay với cách tổ chức sản xuất của vùng trồng.
Ở đề tài triển khai từ tháng 10/2021, nhóm tiếp tục sử dụng KM419 làm nguồn vật liệu để cải tiến, kết hợp với các nguồn giống KM440 và C39. Quá trình thực hiện gồm lai tạo, thu hạt lai, theo dõi các thế hệ cây và chọn những dòng có đặc tính phù hợp. Nhóm khảo sát 27 giống, rồi lựa chọn KM568 và KM537. Năng suất, hàm lượng tinh bột và khả năng chống chịu bệnh được xem xét cùng nhau trong quá trình sàng lọc.
Kết quả khảo nghiệm được nhóm công bố trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển năm 2024, với TS. Nguyễn Thị Trúc Mai đứng đầu danh sách bốn tác giả. Qua tám thí nghiệm so sánh trong giai đoạn 2022–2023 tại Phú Yên, năng suất củ tươi trung bình của KM568 đạt 54 tấn/ha, còn KM537 đạt 51,3 tấn/ha. Các thí nghiệm được thực hiện ở vụ xuân và vụ hè, trên những nền đất khác nhau. Những con số này phản ánh kết quả khảo nghiệm, chưa thể dùng làm mức năng suất dự kiến cho mọi ruộng sắn.
Cùng với sản lượng củ, nhóm theo dõi bệnh khảm lá và bệnh chồi rồng trên cây. Công bố khoa học ghi nhận khả năng chống chịu của hai giống trong điều kiện thử nghiệm, đồng thời mô tả đặc điểm thân, lá và củ để phân biệt, đánh giá giống. Việc theo dõi qua nhiều thí nghiệm giúp kết quả chọn lọc có căn cứ rộng hơn một lần thu hoạch trên một ruộng riêng lẻ.
![]() |
| Người dân kiểm tra củ sắn tại mô hình ở xã Vân Hòa. Ảnh đăng trên trang Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk. |
TS. Nguyễn Thị Trúc Mai và cộng sự còn xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và canh tác cho nông hộ ở vùng nghiên cứu. Các mô hình được triển khai tại địa bàn Sông Hinh, Sơn Hòa và Đồng Xuân thuộc Phú Yên trước đây. Đây là phần việc đưa những giống được chọn ra điều kiện sản xuất, đồng thời hướng dẫn người trồng cách sử dụng nguồn giống và chăm sóc cây.
Tại buổi nghiệm thu tháng 11/2025, hội đồng đánh giá đề tài đạt yêu cầu nhưng đề nghị nhóm bổ sung số liệu, minh chứng và làm rõ hơn hướng dẫn trồng, chăm sóc. Yêu cầu này cho thấy báo cáo kết quả vẫn cần được hoàn thiện để việc áp dụng có căn cứ cụ thể. Việc đăng ký kết quả nghiên cứu sau đó cũng cần được hiểu đúng là đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, không đồng nghĩa với cấp bằng bảo hộ giống.
![]() |
| Toàn cảnh buổi nghiệm thu đề tài chọn tạo giống sắn tại phường Tuy Hòa ngày 11/11/2025. Ảnh đăng trên trang Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk. |
Ở phía người trồng, điều được chờ đợi là nguồn giống sạch bệnh có thể đưa vào vụ sản xuất. Trong bài viết của Báo Đắk Lắk tháng 12/2025, bà Nguyễn Thị Yên ở xã Vân Hòa cho biết gia đình đang trồng KM568, KM539 và KM537, nhận thấy cây không bị khảm lá và có nhiều củ. Bà mong sớm có nguồn giống sạch bệnh cho người dân. Đó là ghi nhận từ một hộ, chưa phải kết quả đánh giá trên toàn vùng, nhưng nêu rõ nhu cầu mà công việc nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Trúc Mai và cộng sự hướng tới.




















Nghiên cứu chọn tạo giống lúa kháng bệnh bạc lá bằng chỉ thị phân tử (Giai đoạn 2)
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
PGS.TS. AHLĐ Nguyễn Thị Trâm: "Nếu không có chính sách đủ mạnh, rất khó thu hút người trẻ đến với nông nghiệp"
Cùng chuyên mục
Vật liệu nickel trong phép thử của TS. Vũ Thị Duyên
Những dấu vết cổ nối Tây Nguyên với vùng duyên hải
TS. Nguyễn Thị Trúc Mai chọn giống sắn chống chịu bệnh hại
Theo dấu rủi ro khí hậu trên vùng cà phê Tây Nguyên
Giải mã “chiếc đồng hồ” sinh lý của hạt lúa để rút ngắn thời gian trưởng thành
Theo dấu khoảng cách giữa nghiệm gần đúng và nghiệm chính xác