![]() |
| TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh trình bày về tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội tại Hội nghị Toàn quốc Khoa học Xã hội và Ngôn ngữ 2026. |
Một người có tìm được việc làm hay không thường được giải thích bằng trình độ, kỹ năng hoặc sự chủ động của chính họ. Một người quyết định đi làm xa cũng dễ được nhìn như một lựa chọn cá nhân. Nhưng trong nhiều nghiên cứu của TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh, Phó Trưởng khoa Công tác xã hội - Nhân học - Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, những lựa chọn ấy luôn nằm trong một mạng lưới rộng hơn gồm gia đình, quan hệ xã hội, tình trạng pháp lý, cơ hội đào tạo và điều kiện của thị trường lao động.
Đường nghiên cứu này tiếp tục được mở rộng trong năm 2026. Tháng 2, một công trình của TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh và cộng sự về đào tạo nghề, việc làm của phụ nữ khuyết tật tại Mỹ Tho được công bố. Tháng 4, chị trình bày về cách tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội tại một hội nghị toàn quốc, rồi tham gia hội nghị tổng kết dự án nghiên cứu mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, di cư, dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ, trẻ em tại Việt Nam và Campuchia.
Những chủ đề có vẻ khá xa nhau, nhưng chúng gặp nhau ở một câu hỏi quen thuộc trong xã hội học. Khi một cá nhân đưa ra lựa chọn, có bao nhiêu phần của lựa chọn ấy thực sự nằm trong khả năng kiểm soát của họ?
Việc làm không bắt đầu từ một tờ đơn xin việc
![]() |
| TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh trình bày Báo cáo Đề dẫn tại hội thảo “Xã hội học và phát triển bền vững - Đồng hành cùng cộng đồng” tháng 12/2025. Ảnh Mỹ Ngân. |
Trong nghiên cứu công bố tháng 2/2026, TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh và Nguyễn Thị Phương Uyên khảo sát việc tiếp cận đào tạo nghề và việc làm của phụ nữ khuyết tật tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2022 qua 33 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với phụ nữ khuyết tật, đại diện chính quyền địa phương, Hội Liên hiệp Phụ nữ và cơ quan phụ trách lao động.
Nghiên cứu không chỉ hỏi phụ nữ khuyết tật có việc làm hay chưa. Nhóm tác giả xem xét những chương trình đào tạo nghề họ có thể tiếp cận, con đường từ học nghề đến tìm việc và các điều kiện có thể mở rộng hoặc thu hẹp cơ hội việc làm.
Cách đặt câu hỏi này làm thay đổi điểm nhìn. Nếu chỉ nhìn kết quả cuối cùng, một người chưa có việc có thể dễ bị quy về thiếu kỹ năng hoặc chưa đủ chủ động. Nhưng khi lần ngược quá trình, khả năng tiếp cận đào tạo, đặc điểm công việc sẵn có, sự hỗ trợ tại địa phương và những trở ngại gắn với tình trạng khuyết tật đều trở thành những phần cần được xem xét.
Nghiên cứu được thực hiện trên một địa bàn cụ thể và với phương pháp định tính, vì vậy 33 cuộc phỏng vấn không đại diện về mặt thống kê cho toàn bộ phụ nữ khuyết tật tại Việt Nam. Giá trị của dữ liệu nằm ở việc làm rõ những con đường mà một nhóm phụ nữ tại Mỹ Tho đi qua khi tìm kiếm cơ hội học nghề và việc làm, từ đó cung cấp cơ sở để nhóm tác giả đề xuất các giải pháp phù hợp hơn với điều kiện của họ.
Đây cũng không phải lần đầu TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh đặt câu hỏi về việc làm từ những điều kiện nằm ngoài năng lực cá nhân.
Khi một giấy tờ có thể ảnh hưởng đến cả con đường mưu sinh
Trong nghiên cứu thực hiện cùng Cao Thanh Tâm về người gốc Việt không có quốc tịch từ Campuchia trở về Việt Nam, nhóm tác giả khảo sát thực địa tại Tân Thành và Tân Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Những cuộc phỏng vấn sâu và quan sát cho thấy tình trạng pháp lý bấp bênh có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp cận việc làm của nhóm được nghiên cứu.
Ở đây, khó khăn không thể giải thích đơn thuần bằng việc một người có muốn làm việc hay có năng lực lao động hay không. Không có quốc tịch và thiếu những giấy tờ cần thiết có thể thu hẹp ngay từ đầu phạm vi công việc mà họ có khả năng tiếp cận.
Công trình này nối với một hướng nghiên cứu dài hơn của TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh về di cư. Chị nhận bằng tiến sĩ ngành Xã hội học và Chính sách xã hội tại Đại học Sydney với luận án nghiên cứu mạng lưới xã hội trong di cư lao động tạm thời từ Việt Nam sang Hàn Quốc. Những nghiên cứu sau đó tiếp tục xem xét vai trò của gia đình, mạng lưới hỗ trợ, chính sách của nước tiếp nhận và tình trạng pháp lý đối với hành trình của người di cư.
Trong một công trình xuất bản gần đây về lao động Việt Nam sang Hàn Quốc, TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh xem gia đình không chỉ là nơi nhận tiền gửi về. Gia đình có thể tham gia từ lúc chuẩn bị nguồn lực cho chuyến đi, duy trì quan hệ trong thời gian người lao động ở nước ngoài đến quá trình tái hòa nhập kinh tế khi họ trở về. Cách nhìn này đặt di cư vào một chuỗi quan hệ thay vì xem nó như quyết định độc lập của một cá nhân.
Các nghiên cứu khác nhau về đối tượng và địa bàn, nhưng cùng cho thấy một giới hạn của cách giải thích chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân. Cơ hội việc làm có thể bị định hình bởi giấy tờ pháp lý, mạng lưới gia đình, khả năng tiếp cận đào tạo hay cấu trúc của thị trường mà người lao động bước vào.
![]() |
| Hội nghị tổng kết dự án nghiên cứu về biến đổi khí hậu, di cư, dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ, trẻ em tại Việt Nam và Campuchia, tổ chức ở Phnom Penh tháng 4/2026. Ảnh Nguyễn Xuân Anh. |
Đưa biến đổi khí hậu vào câu chuyện di cư
Tháng 4/2026, TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh cùng TS. Nguyễn Xuân Anh tham dự hội nghị tổng kết một dự án hợp tác giữa các đối tác tại Việt Nam, Campuchia và Pháp về tác động của biến đổi khí hậu đối với di cư, dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ, trẻ em tại Việt Nam và Campuchia.
Dự án mở rộng phạm vi câu hỏi từ những điều kiện xã hội quen thuộc sang một yếu tố đang ngày càng tác động đến sinh kế và dịch chuyển dân cư là môi trường. Hội nghị tại Phnom Penh mới công bố những kết quả sơ bộ đầu tiên, vì vậy chưa có căn cứ để từ sự kiện này kết luận biến đổi khí hậu đã gây ra một mức độ di cư cụ thể hay tạo ra một quan hệ nhân quả xác định đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
Điểm có thể nhìn thấy rõ hơn là cách câu hỏi nghiên cứu được mở rộng. Di cư không chỉ được xem trong quan hệ với việc làm, gia đình hoặc chính sách mà còn được đặt cạnh biến đổi khí hậu, dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng. Những vấn đề như vậy khó nằm gọn trong ranh giới của một ngành khoa học xã hội duy nhất.
Cũng trong tháng 4/2026, tại Hội nghị Toàn quốc Khoa học Xã hội và Ngôn ngữ, TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh trình bày tham luận về tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội. Nội dung tập trung vào xu hướng kết hợp tri thức từ nhiều lĩnh vực trong đào tạo và nghiên cứu, thay vì giữ mỗi vấn đề trong một khung chuyên môn riêng biệt.
Với chuỗi công trình mà chị đang theo đuổi, liên ngành không phải một khái niệm tách khỏi đối tượng nghiên cứu. Khi di cư gặp câu chuyện việc làm, giới, tình trạng pháp lý, gia đình hay biến đổi khí hậu, bản thân vấn đề đã buộc người nghiên cứu phải nhìn qua nhiều lớp điều kiện cùng lúc.
Cuối năm 2025, tại hội thảo kỷ niệm 30 năm ngành Xã hội học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh cũng đặt phát triển bền vững trong mối quan hệ với những vấn đề xã hội và sự tham gia của cộng đồng. Các chủ đề của hội thảo trải từ đô thị, di cư, nguồn nhân lực, hòa nhập xã hội đến người cao tuổi và gia đình, cho thấy phạm vi mà xã hội học đang phải xử lý ngày càng đan xen.
Nhìn từ các nghiên cứu về người lao động di cư, người không có quốc tịch hay phụ nữ khuyết tật, một điểm chung hiện ra khá rõ. TS. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh không tách cá nhân khỏi hoàn cảnh mà đặt họ trở lại trong những quan hệ và thiết chế có thể mở ra hoặc giới hạn lựa chọn. Đó cũng là cách một câu hỏi tưởng như rất riêng của mỗi người về việc đi đâu, học nghề gì hay làm công việc nào trở thành đối tượng của nghiên cứu xã hội.
















Doanh nghiệp tuyển người khuyết tật được giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp
Lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài cần rõ chi phí từ đầu
Phân công theo giới tạo hai lớp rủi ro trong lao động thủy sản
Cùng chuyên mục
Nữ giáo sư thuộc Top 100 nhân vật ảnh hưởng nhất giới AI nói về VinFuture 2026
Phát hiện cấu trúc ulvan mới từ hai loài rong lục Việt Nam
55 tháng bám đất, trồng cỏ và hành trình đưa nghiên cứu môi trường Việt Nam ra quốc tế
Khảo sát 375 sinh viên sư phạm về cách sử dụng AI khi học
Kết nối nghiên cứu văn hóa với sinh kế của người dân Hội An
Phức chất kẽm mở hướng phát hiện hóa chất bằng tín hiệu ánh sáng